Clock-Time

Suy Niệm Chúa nhật Lễ Chúa Thăng Thiên (Lc 24:46-53) - Lm Alfonsô

Phục sinh, Thăng Thiên và Hiện xuống, là ba mặt của cùng một “mầu nhiệm” duy nhất: bởi vì theo kiểu nói của khải huyền, khi vừa sống lại, thì Chúa Giêsu đã bước vào vinh quang của Chúa Cha. Đặc biệt, thánh sử Luca nhấn mạnh đến sự kiện Chúa Giêsu “rời bỏ” những kẻ mà Người đã cho họ được gặp mặt sau phục sinh. Người biến mất trước cái nhìn của họ.

Suy niệm Lời Chúa
CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN
Ngày 29/5/2022

Bài Ðọc I: Cv 1,1-11

“Trước sự chứng kiến của các ông, Người lên trời”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Hỡi Thêôphilê, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những điều Ðức Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, cho đến ngày Người lên trời, sau khi căn dặn các Tông đồ, những kẻ Người đã tuyển chọn dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa. Và trong một bữa ăn, Người đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa. Người nói: “Như các con đã nghe chính miệng Thầy rằng: Gioan đã làm phép rửa bằng nước, phần các con, ít ngày nữa, các con sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”.

Vậy các kẻ có mặt hỏi Người rằng: “Lạy Thầy, có phải đã đến lúc Thầy khôi phục Nước Israel chăng?” Người bảo họ rằng: “Ðâu phải việc các con hiểu biết thời gian hay kỳ hạn mà Cha đã ấn định do quyền bính Ngài. Nhưng các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”. Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông.

Ðang khi các ông còn ngước mắt lên trời nhìn theo Người đang xa đi, thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời”. Ðó là lời Chúa.

Ðáp ca: Tv 46, 2-3. 6-7. 8-9

Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang (c.6).

1) Hết thảy chư dân, hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa tiếng reo vui! Vì Chúa là Ðấng Tối cao, khả uý. Người là Ðại Ðế trên khắp trần gian.

2) Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang. Hãy ca mừng, ca mừng Thiên Chúa’. hãy ca mừng, ca mừng Vua ta!

3) Vì Thiên Chúa là Vua khắp cõi trần gian, hãy xướng ca vịnh mừng Người. Thiên Chúa thống trị trên các nước, Thiên Chúa ngự trên ngai thánh của Người.

Bài đọc II: Ep 1,17-23

“Người đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời”.

Trích thư của Thánh Ph olô Tông đồ gửi tín hữu Êphêsô.

Anh em thân mến, xin Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc khải, để nhận biết Người, xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta, là những kẻ tin, chiếu theo hành động của sức mạnh quyền năng Người, công việc mà Chúa đã thực hiện trong Ðức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời, vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần, và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài, và là sự sung mãn của Ðấng chu toàn mọi sự trong mọi người. Ðó là lời Chúa.

Alleluia, alleluia! (Mt 28,19-20): Chúa phán: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. – Alleluia.

Bài kết Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca (Lc 24, 46-53)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Như đã ghi chép là Ðức Kitô phải chịu khổ hình và ngày thứ ba từ cõi chết sống lại; và nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem. Các con là nhân chứng những sự việc ấy. Thầy sẽ sai đến với các con Ðấng Cha Thầy đã hứa; vậy các con hãy ở lại trong thành cho đến khi mặc lấy quyền lực từ trên cao ban xuống”. Rồi Người dẫn các ông ra ngoài, đến làng Bêtania, và giơ tay chúc phúc cho các ông. Sự việc xảy ra là đang khi Người chúc phúc cho các ông, Người rời khỏi các ông mà lên trời. Các ông thờ lạy Người, và trở về Giêrusalem lòng đầy vui mừng. Các ông luôn luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa. Amen. Ðó là lời Chúa.

Suy niệm 1

Phục sinh, Thăng Thiên và Hiện xuống, là ba mặt của cùng một “mầu nhiệm” duy nhất: bởi vì theo kiểu nói của khải huyền, khi vừa sống lại, thì Chúa Giêsu đã bước vào vinh quang của Chúa Cha. Đặc biệt, thánh sử Luca nhấn mạnh đến sự kiện Chúa Giêsu “rời bỏ” những kẻ mà Người đã cho họ được gặp mặt sau phục sinh. Người biến mất trước cái nhìn của họ.

Bốn mươi ngày là khoảng thời gian giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên, một thời gian để Đấng Phục Sinh chuẩn bị cho sứ mạng của các môn đệ Người. Qua đó, Bằng ngòi bút văn chương, thánh Luca đã trình bày biến cố Thăng Thiên vào “ngày thứ bốn mươi” bắt đầu cuộc sống mới của Chúa Giêsu Kitô vượt qua không gian và thời gian, hoàn tất sự hiện diện hữu hình của Người… thì cũng là lúc vừa hoàn tất sách Tin Mừng Thứ Ba, sang trang sách Công vụ Tông đồ, khởi sự thời kỳ của Giáo hội.

Chúa Giêsu mở tâm hồn cho môn đệ Người hiểu tất cả những sự kiện các ông vừa trải qua. Và chỉ nhờ biến cố Phục sinh của Thầy, các môn đệ mới hiểu được những lời Kinh Thánh từ sách luật Môisen, sách các Tiên tri và các Thánh vịnh chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm về việc Đấng Kitô phải chịu khổ hình rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại rồi phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.

Chúa Giêsu dẫn các môn đệ Người đến làng Bêtania, và giơ tay chúc phúc cho các ông. Sự việc xảy ra là đang khi Người chúc phúc cho các ông, Người rời khỏi các ông mà lên trời. Đang khi Người được “đem lên trời”, các môn đệ “phủ phục bái lạy Người”, một cử chỉ tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi. Thật là nghịch lý khi Chúa Giêsu rời khỏi họ, thế mà chẳng những họ không buồn mà lại vui tươi. Mọi người đều chấp nhận từ nay không còn được trông thấy, mà chỉ sống bằng lòng tin. Roland Meynet quảng giải: “Các môn đệ xem thấy Chúa Giêsu lần cuối, cuộc chia ly thế là dứt khoát rồi. Tuy nhiên, các ông không buồn sầu, ngược lại, các ông trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỷ. Chính là vì Thầy không đi vào cõi chết như họ đã trông thấy ba ngày trước, nhưng được đưa lên trời, đến cùng Chúa Cha. Các ông bái lạy Người và không ngớt chúc tụng Thiên Chúa. Nếu Đền thờ là nơi và là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người, thì các ông biết rằng: nếu các ông luôn ở lại trước mặt Đấng tối Cao, các ông sẽ không phải xa cách Đấng vừa về với Ngài. 

Biến cố Lên Trời cho thấy công trình cứu độ này đã hoàn thành, nhưng kế hoạch của Thiên Chúa được ghi trong Kinh Thánh không chấm hết cùng với cái chết, phục sinh và lên trời vinh hiển của Đức Glêsu, mà còn tiếp tục trong Hội Thánh. Sứ điệp Tin Mừng hoạch định “cho muôn dân” giờ đây nhiệm vụ được chuyển giao cho các chứng nhân rao giảng “bắt đầu từ Giêrusalem” để làm cho thế giới sám hối trở lại.

Câu chuyện về vị nhạc sư người Ý, Giacomo Puccini để lại cho đời một số những tác phẩm ca nhạc kịch opera rất nổi tiếng, chẳng hạn như La Bohême và Madame Butterly, trong đó có tác phẩm bất hủ, vở ca kịch Turandot. Năm 1922, ông bị ung thư ác tính lúc 64 tuổi đời. Mặc dù cơn bệnh hành hạ, Puccini vẫn làm việc ngày đêm, nhất định phải hoàn tất vở ca kịch Turandot. Nhiều người khuyên can ông phải nghỉ ngơi vì nghĩ rằng ông không thể nào hoàn tất vở ca kịch này được. Khi cơn bệnh trở nên trầm trọng, Puccini đã viết cho học trò của mình: “Nếu thầy không hoàn tất vở ca kịch Turandot được, thầy muốn các con tiếp tục công việc ấy cho thầy”. Điều gì phải tới đã tới, Puccini qua đời đang khi chịu giải phẫu ở Bỉ. Các học trò của ông ở Ý đã qui tụ lại, mỗi người một tài năng khác nhau tiếp tục sáng tác vở ca kịch Turandot của thầy. Cuối cùng, họ cũng đã hoàn thành sau thời gian làm việc với tất cả tâm hồn.

Năm 1926, lần đầu tiên trên thế giới, vở ca kịch đã được trình diễn tại nhà hát kịch La Scala ở Milan bởi bởi Arturo Toscanini, người nhạc trưởng môn sinh rất được Puccini yêu quý điều khiển. Mọi sự diễn tiến tốt đẹp cho đến khi dàn hòa tấu trình diễn tới khúc nhạc mà Puccini đã sáng tác dang dở. Những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài trên khuôn mặt của người điều khiển. Anh ta ngưng dàn nhạc lại, buông cây đũa điều khiển xuống, quay ra khán giả và nói lớn: “Thầy tôi đã viết đến đây, rồi ông qua đời”. Cả khán phòng im lặng hồi lâu không một tiếng động. Sau vài phút, người nhạc trưởng cầm cây đũa điều khiển lên, quay ra khán giả, mỉm cười qua những giọt lệ rơi và nói lớn: “Nhưng các môn sinh của ông đã hoàn tất tác phẩm này”. Khi vở ca kịch Turandot kết thúc, cả nhà hát vang lên tràng pháo tay vang trời không ngớt. Trong nhà hát ai cũng rơi lệ và mọi người không ai có thể quên được giây phút ấy.

Đã qua 2000 năm, nhưng dường như sứ điệp Phục Sinh còn quá nhiều người chưa biết tới! Phải chăng chúng ta quên rằng Chúa về trời nhưng Người vẫn hiện diện rất sống động giữa chúng ta. Muốn rao giảng Đức Kitô cho thế giới, trước hết chúng ta phải đưa Người vào chính cuộc sống của mình; sau đó, lời rao giảng về Người mới có sức chinh phục các tâm hồn. Albert Peyriguere đã viết: “Có nhiều tông đồ nói về Đức Kitô, nhưng Người lại muốn có những tông đồ quyết sống vì Người!”

Có nhiều cách rao giảng Tin mừng, có người phải từ bỏ gia đình đi đến những miền xa, phải trèo non lặn suối, có khi phải liều mạng để rao giảng Tin mừng. Đây là những người có ơn kêu gọi đặc biệt, còn phần đông chúng ta chỉ có thể rao giảng trong môi trường cụ thể của mình, đó là rao giảng bằng đời sống. Đó chính là sống Lời Chúa Giêsu truyền dạy trong chính cuộc sống riêng của mỗi ngưởi, Để rao giảng Đức Giêsu cho thế gian, chúng ta phải bắt đầu bằng cách tự rao giảng Ngài cho chính chúng ta trước. Truyện : Những gì tôi biết về Chúa Kitô.

Xin kết thúc bằng một cuộc đối thoại độc đáo giữa một người tân tòng Công giáo và một người vô thần :

– Anh đã theo đạo Công giáo rồi sao?

– Vâng, nói đúng và rõ hơn, tôi đã xin theo Đức Kitô.

– Thế thì chắc anh biết rất nhiều về ông ta, vậy anh hãy nói cho tôi biết ông ta sinh ra trong quốc gia nào?

– Rất tiếc là tôi đã có học những chi tiết này trong một khóa giáo lý, nhưng tôi lại quên mất.

– Thế khi chết, ông ta được bao nhiêu tuổi?

 – Tôi không nhớ rõ lắm nên cũng không dám nói.

– Vậy anh có biết ông ta đã thuyết giảng bao nhiêu bài, có bao nhiêu tác phẩm ông ta để lại, nói chung, về cuộc đời sự nghiệp của ông ta?

– Như vậy, anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đã thực sự đi theo ông Kitô.

– Anh nói đúng một phần. Tôi rất hổ thẹn vì mình đã biết qúa ít về Đức Kitô. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rõ là thế này : ba năm trước, tôi là một tên nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ lút đầu lút cổ. Gia đình tôi xuống dốc một cách kinh khủng. Mỗi tối khi trở về nhà, vợ và các con tôi đều tức giận và buồn tủi. Thế mà, bây giờ thì tôi đã dứt khoát bỏ rượu và đã cố gắng trả được hết nợ nần, gia đình tôi đã tìm lại được hạnh phúc, các con tôi ngong ngóng chờ đợi tôi về nhà mỗi tối sau giờ làm ca. Tất cả những điều này, không ai khác hơn, chính Đức Kitô đã làm cho tôi. Và đó là tất cả những gì tôi biết về Ngài… (Theo Parole de vie).

Suy niệm 2:

Hôm nay, phụng vụ Giáo Hội cử hành Thánh lễ mừng Chúa Thăng Thiên, hay còn gọi là Lễ Chúa Giêsu Lên Trời. Trước khi chai tay các môn đệ để từ từ được rước lên trời, Chúa Giêsu đã ban huấn lệnh mà chúng ta nghe trong bài đọc I: “Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”.

Thế chứng nhân về điều gì? Thưa đó là về Đức Kitô chịu khổ nạn và ngày thứ ba sống lại từ cõi chết. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu còn ở trần gian bốn mươi ngày. Người hiện ra nơi này nơi khác để củng cố đức tin, tiếp tục dạy dỗ các môn đệ. Các ông là những người có diễm phúc được đối diện với Đấng Phục Sinh, được nhìn thấy những dấu đinh trên tay chân Thầy, và được ăn uống với Người. Tất cả những sự việc ấy để gia tang niềm xác tín cho các môn đệ, nhờ đó các ông sẵn sàng ra đi loan báo Tin mừng phục sinh cho mọi dân tộc. Nhờ tin vào Chúa, mọi người hối cải để được tha thứ tội lỗi.

Sứ điệp Kitô giáo không phải là một suy tưởng cá nhân của một ai đó, hay là một sáng kiến độc đáo. Cũng như Kitô giáo trước hết là một biến cố, rồi từ biến cố ấy thành lịch sử về những hoạt động của Thiên Chúa, về một vị Thiên Chúa nhập thể vì yêu thương con người, về “một Đức Kitô đã chết và đã sống lại” đem ơn cứu chuộc đến cho mọi người.

Đây là lần cuối cùng Chúa Giêsu ở giữa các tông đồ. Ngài ở giữa họ để nói lên lời từ biệt. Sự việc xảy ra gần Bêtania ở cửa thành thánh.

Thánh sử Luca trình bày sự kiện Chúa lên trời ngay tại Giêrusalem. Nếu như trước kia trên đường lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, Chúa đã biến hình cho một số môn đệ thân tín và yêu quý được minh thị vinh quang Chúa tỏ rạng, thì cũng tại kinh đô là trung tâm tôn giáo này, sau khi tiến vào Giêrusalem để chịu khổ nạn, Chúa đã thăng thiên, trở về cùng Chúa Cha trong vinh quang. Việc Chúa Phục sinh và lên trời mạc khải cho các môn đệ biết nguồn gốc cũng như bản tính Thiên Chúa của Người, và đã đến lúc Người được cất nhắc lên ngự bên hữu Chúa Cha.

Việc Chúa lên trời đó là niềm hy vọng cho các môn đệ sẽ được lên trời với Chúa trong ngày sau hết. Họ thờ lạy, thán phục như là cách thức nói lên sự hân hoan với lòng trông cậy. ‘Rồi họ trở lại Giêrusalem, vui mừng khôn xiết, và hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa’. Tin mừng kết thúc trong niềm hoan lạc, để rồi từ giờ đó, họ biết rằng đời họ là một cuộc hành trình theo Thầy, cũng phải tiến về Giêrusalem, bất chấp mọi trở ngại của cuộc sống trần gian, thậm chí chịu gian lao bách hại để làm chứng cho niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh.

Biến cố Chúa lên trời không phải là chuyện Chúa đã bay lên, thoát khỏi sức hút của trái đất, mà là mầu nhiệm Ngài được Chúa Cha nâng dậy từ cõi chết và đưa vào chung hưởng vinh quang bên Chúa Cha. Nơi ở của Thiên Chúa là thiên đàng. Nhưng toan tính đi tìm thiên đàng bằng một con tàu vũ trụ điều đó chỉ đưa đến thất vọng và chứng tỏ một thái độ ấu trĩ, vì thiên đàng nằm ngoài khả năng cảm nhận của giác quan. Chúa đã về trời nhưng Ngài vẫn còn ở lại với chúng ta luôn mãi; bởi vì lên trời không phải là đi vào một thế giới xa lạ với thế giới loài người và cắt đứt mọi liên hệ với trần thế.

Thời Liên Xô cũ, báo đài không ít lần nhắc đi nhắc lại câu chuyện phi hành gia Liên Xô Yuri Gagarin khi bay lên vũ trụ đã nói: "Tôi chẳng thấy ở trên này có Chúa nào cả". Yuri Gagarin, anh ta là một phi hành gia tài ba, lại là người theo Kitô giáo (Chính thống giáo). Sinh thời Yuri Gagarin cũng thường đi lễ nhà thờ và cầu nguyện, trong nhà treo nhiều tranh ảnh Chúa Giêsu. Tuy nhiên Nikita Khrushchev, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô, trong bài phát biểu trước Hội nghị Komsomol nhằm phát động chiến dịch trấn áp tôn giáo, kể rằng: "Yuri Gagarin đã bay lên vũ trụ, và chẳng thấy có Chúa nào cả". Sau khi Khrushchev qua đời, Yuri Gagarin đã dùng uy tín của một phi hành gia nổi tiếng để đề nghị nhà nước cho xây cất lại Thánh Đường Chúa Cứu Thế (Cathedral of Christ the Savior) tại Moscow đã bị phá đi dưới thời Stalin...

Vâng, tuy chúng ta không còn thấy Ngài một cách hữu hình nhưng Ngài vẫn tiếp tục hiện diện giữa chúng ta cách này cách khác. Chúng ta có thể gặp Ngài qua những kỳ công trong vũ trụ, như với Newton nhà thiên văn lỗi lạc, nhìn ngắm cảnh hùng vĩ vũ trụ ông phải thốt ra lời này: “Tôi thấy Thiên Chúa đi qua ở đầu viễn vọng kính của tôi!”. Hoặc như Becquerel gặp Chúa qua công việc của mình khi nhà khoa học bảo rằng: “Chính các công cuộc khảo cứu khoa học của tôi đã đưa tôi đến Thiên Chúa và đã làm tôi có đức tin.”

Chúng ta còn gặp Chúa qua những lời giảng dạy, qua Bí tích Thánh Thể, qua Giáo hội, nơi những người anh em, nhất là những người khổ đau và bất hạnh về tinh thần và thể xác. Chúa được tôn vinh lên trời không phải là làm một cuộc đi xa, nhưng để hướng lòng chúng ta về nước Trời đáng yêu đó để dám sống cho điều mình tin nhận.

Nhìn lại 50 năm đã qua, các nước tiên tiến đã đua nhau sáng chế ra các phi thuyền bay lên thám hiểm mặt trăng và các hành tinh khác. Có những phi thuyền đã lên tới nơi, rồi trở về lại trái đất an toàn, thì cũng có những phi thuyền ra đi luôn, không bao giờ trở lại được nữa. Trong đó có phi thuyền Apollo 11 Lunar của Hoa Kỳ đưa con người thực sự tiến vào mặt trăng Chủ Nhật, 20 tháng 7 năm 1969. 

Một bộ phận đầu của phi thuyền Apollo 11 đã tách rời khỏi phần chính của phi thuyền mẹ để đưa hai Phi Hành Gia Neil Armstrong và Buzz Aldrin đáp xuống mặt trăng, Armstrong người đầu tiên đặt chân xuống. Sau khi cắm cờ, ông vội vàng ngửa mặt lên trời đọc kinh “Lạy Cha” để cảm tạ hồng ân Thiên Chúa đã tạo dựng nên một vũ trụ sinh đẹp, bao la và đầy huyền bí, mà chính mắt ông đã được chứng kiến một cách rõ ràng, rồi ông mới đi lượm những cục đá trên mặt trăng, tổng cộng nặng 200kg đem về trái đất thí nghiệm.

Mọi người trên thế giới còn nhớ câu nói lịch sử của Neil Amstrong, người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng, rằng: "Đó chỉ là một bước ngắn đối với một người; nhưng là một bước nhảy dài đối với nhân loại."

Nhưng ít ai biết bữa ăn đầu tiên trên mặt trăng của nhà phi hành. Cùng lên mặt trăng với Amstrong là Buzz Adrin. Cũng là Kitô hữu nên nhà thờ của anh gởi theo một đĩa có bánh, nước nho và mấy cái ly nhỏ. Aldrin vừa đến mặt trăng đã nói qua máy yêu cầu mọi người nghe chú ý đến sự việc con người chinh phục mặt trăng lần đầu tiên và dâng lời cảm tạ Chúa. Anh mở Kinh Thánh ra đọc: "Ta là cây nho, anh em là nhánh. Ai cứ ở trong ta và Ta trong người ấy, thì sẽ sinh quả trái." (Giăng 15:5).

Đúng là Chúa có mặt bất cứ nơi nào và mỗi chúng ta có thể cảm tạ, tôn thờ, ca ngợi Chúa dù ở trên mặt trăng hay nơi nào xa cách loài người. Không những thế, Chúa còn ở trong tâm hồn mỗi chúng ta. Chính vì vậy mà anh Adrin đã một mình dự thánh lễ bánh và nước để nhớ đến công ơn của Chúa, dù là lên mặt trăng, xa rời trái đất.

Chúng ta cũng vậy, dù bạn có xa gia đình, xa hội thánh, nhưng Chúa vẫn ở cùng và Ngài sẵn sàng nghe tiếng chúng ta ca ngợi tôn vinh Ngài.