Clock-Time

Ân Huệ Của Lòng Thương Xót Trong Bí Tích Hoà Giải

Không phải bằng trí khôn tự nhiên mà con người có thể khám phá ra được Thiên Chúa là Cha đầy lòng nhân hậu
DẪN NHẬP
 
Không phải bằng trí khôn tự nhiên mà con người có thể khám phá ra được Thiên Chúa là Cha đầy lòng nhân hậu, nhưng đã phải trải qua một quá trình Mạc Khải lâu dài, trí khôn của con người mới được mách bảo cho họ biết có một Đấng hằng yêu thương và chăm sóc họ. Tình thương này được nhận ra khi Thiên Chúa trực tiếp can thiệp vào lịch sử của nhân loại. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng phải dùng một phương pháp sư phạm tiệm tiến cho phù hợp với khả năng nhận thức của con người theo đà tiến của lịch sử. Trong muôn vàn dân tộc, Thiên Chúa đã chiếu cố và chọn lấy một dân tộc làm dân riêng, làm sở hữu cho mình. Đó là dân Israel, được gọi là con đầu lòng của Thiên Chúa. Chính trong lịch sử của dân này, Người đã Mạc Khải là Cha giàu lòng nhân ái, Thiên Chúa của Giao Ước tình thương.
 
Mặc dù được hưởng tình thương bao la và ơn tha thứ cách nhưng không, nhưng dân vẫn không tránh khỏi những đam mê, cám dỗ tội lỗi. Tuy vậy, Thiên Chúa không để kế hoạch cứu độ của Người phải thất bại. Người đã biểu lộ lòng thương xót ấy cho đến cùng bằng cách ban cho nhân loại chính Con Một của mình. Con Một Thiên Chúa đã lấy chính máu của mình để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa. Suốt cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu, Người đã không ngừng rao giảng Tin Mừng về lòng thương xót Thiên Chúa và ban ơn tha tội. Người đã kêu mời mọi người sám hối, tin vào Tin Mừng và đón nhận ơn cứu độ (x. Mc 1,15). Người đã liên đới với mọi người, đã trở nên anh em của mọi người, nhất là những người tội lỗi, người sống bên lề xã hội,... để giải thoát họ khỏi ách nô lệ của tội lỗi và “mở ra cho họ con đường cứu độ đời đời”.[1]
 
Đi vào tận căn của những biểu hiện bên ngoài ấy, là một khủng hoảng của tình thương đang thiếu vắng sự chân thật, tín nhiệm, tha thứ. Nhưng thực tế vẫn cho ta kinh nghiệm về mình, vốn bị sự ác thống trị, sự ích kỷ vẫn là bạn đường trung thành với con người, bên cạnh đó là áp lực lớn lao của địa vị, và những nguồn lợi nhuận bảo đảm cho những nhu cầu trước mắt, khiến con người đi lệch hướng sang phía tiêu cực, được trước mắt nhưng tai hại lâu dài. Dù sao, đây cũng mới là nhìn nhận thực tại, nhưng giải quyết nó con người cần một quyền năng có sức Cứu Độ chữa trị tận căn.
 
Mỗi tôn giáo đều kêu gọi tín hữu của mình sám hối như điều kiện đạt tới cứu độ theo tôn giáo riêng của họ, tùy theo sự sám hối thành tâm ít nhiều của tín đồ có thể phủ lấp những xúc phạm do mình gây ra, điều này cho ta thấy phù hợp với lẽ công bằng. Bí tích Hòa Giải của Kitô giáo cũng cho ta thấy sự tương tự như vậy, nhưng mang một ý nghĩa sâu xa và phong phú hơn. Khi người tín hữu đến với Bí tích Hòa Giải, là ta nhìn nhận chính lỗi làm là gốc rễ của mọi tha hóa con người như tác nhân cơ bản, từ đó ảnh hưởng trên những thực tại chung quanh của cuộc sống, được diễn tả bằng những hình thức khác nhau của nền văn hóa chết. Bí tích Hòa Giải là ơn huệ “nhưng không” của Đấng giàu lòng thương xót, song cũng đòi hỏi sự cộng tác tích cực về phía con người: nhìn nhận thiếu sót, thực lòng hối hận những gì đã qua, muốn sống tích cực hơn, đồng thời thể hiện việc bác ái, đạo đức hay hy sinh,... để phần nào bù đắp lại những thiếu sót đã gây ra. Với ý thức đó, con người cần được chữa lành từ chính trong nội tâm sâu thẳm của lòng mình, chữa lành nhân cách và được tha thứ, được đón nhận tình yêu của Đấng đầy lòng thương xót tha thứ.
 
Đề tài này rất rộng và phong phú trong lãnh vực nghiên cứu và đời sống đức tin. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, chỉ xin giới hạn vào ba khía cạnh: Thánh Kinh, Thần học và mục vụ, nhằm giúp cho bản thân sống cách tích cực trong Năm thánh Lòng Thương Xót này.
 
I. KINH THÁNH
 
A. Cựu ước: Thiên Chúa Đấng thánh thiện
 
Theo ngôn ngữ Semit từ “qô dès” có nghĩa là: sự thánh thiện, vật thánh, xuất phát từ ngữ căn có nghĩa “tách rời, tách biệt”. Thánh là cái tách biệt khỏi những gì phàm tục,nhơ uế. Sự thánh thiện trong Kinh Thánh có một nội dung phong phú sâu xa, sự thánh thiện là ưu phẩm thuộc về bản chất của Thiên Chúa “Thiên Chúa Đấng chí thánh”, sự thánh thiện của Thiên Chúa không giới hạn ở đặc tính luân lý hay là tổng hợp nhân đức, nhưng là hữu thể viên mãn của sự sống sức mạnh và tình yêu. Cựu Ước diễn tả sự Thánh Thiện của Thiên Chúa trổi vượt bằng cách tách biệt khỏi thế giới phàm tục, vượt lên trên mọi tạo vật. Tuy nhiên, không vì sự tách biệt ấy mà Thiên Chúa trở nên xa lạ, khép kín với thụ tạo của Ngài, trái lại Thiên Chúa tỏ lộ sự thánh thiện của Ngài qua các công trình kỳ diệu Ngài thực hiện trong vũ trụ; đặc biệt, “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình”;[2] đồng thời, Thiên Chúa cũng thông ban chia sẻ cho con người được tham dự vào sự Thánh Thiện của Ngài như một điều luật bó buộc: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh”.[3] Dù vậy, ở mỗi giai đoạn lịch sử cùng với sự tiến bộ, dân Chúa tìm hiểu nội dung sự thánh thiện và diễn tả ở những mức độ hiểu biết ngày càng thêm sâu xa phong phú.
 
Thời Môsê, thánh thiện được nhìn theo nghĩa tách biệt vật chất, nơi chốn. Nơi Thiên Chúa hiện diện phải là nơi thánh, con người phàm tục không thể bước vào, hoặc giả như ông Môsê tiếp cận với Đức Chúa, ông bày tỏ thái độ kính trọng bằng việc cởi dép, vì ông đang ở nơi thánh.[4] Trong cuộc thần hiện của Giavê trên núi Sinai,[5] Ngài hiện diện trong bụi gai bốc cháy, với mây giông sấm chớp, cột khói và cửa nhà rung chuyển, nhằm biểu thị Thiên Chúa là Đấng Thánh cao cả khác xa, vượt trên mọi suy nghĩ của người phàm tục, sự hiện diện của Thiên Chúa cùng với sự thánh thiện của Ngài, như một quyền lực kinh khiếp và mầu nhiệm, sẵn sàng tiêu diệt những phàm tục, bất xứng.
 
Thời Đavít, Hòm Bia là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài, giai đoạn này có sự phân biệt rõ rệt giữa sự thánh và phàm, không ai được chạm tới Hòm Bia uy linh Chúa, chỉ trừ những ai đứng trong hàng ngũ các tư tế mới được chạm đến Hòm Bia khi cử hành phụng vụ; ngoài ra những ai không có trách nhiệm vô tình hay cố ý chạm tới Hòm Bia như một phạm thánh tức khắc bị tiêu diệt.[6]
 
Thời Ngôn sứ, từ quan niệm mang tính vật thể, nơi chốn; sự thánh thiện kèm theo nghĩa luân lý và thuộc về lãnh vực nội tâm hơn, chính các ngôn sứ là những vị giúp canh tân nội dung phong phú, kêu gọi một cuộc sống thánh thiện phát xuất từ chính cõi lòng bằng một cuộc quay về với Chúa cách chân thành đúng đắn. Dù vậy, với thời gian nếp sống thánh thiện cũng bị sơ cứng nơi nếp nghĩ của dân, họ coi sự thánh thiện như một sự cố gắng phấn đấu và tự vươn lên của bản thân đơn độc, không cần ơn trên. Vì thế, dẫn đến một quan niệm sai lầm; quan niệm vụ hình thức này sẽ được nhắc lại qua các ngôn sứ và đặc biệt thời Tân Ước.
 
Con người luôn khao khát sự thánh thiện của Thiên Chúa và ra sức tìm kiếm để bắt chước, và cũng đạt được những kết quả nhất định, dù vậy vẫn còn có khoảng cách, tách biệt khi đối diện với sự thánh thiện của Đức Chúa, con người còn nhận ra một sự ngăn cách mà tự sức con người không thể thu hồi khoảng cách ấy, đó là sự thấp hèn và ô nhơ của con người trước mặt Thiên Chúa, Đấng Chí Tôn Chí Thánh, nơi Ngài không chút tì vết của tội lỗi.
 
1. Danh thánh Đức Chúa
 
Tên không chỉ được xem như một danh xưng, nhưng còn gắn liền với một con người, tên thường gợi lên cho ta một hình ảnh sống động của một con người nào đó; ngoài ra, tên còn hàm chứa một ơn gọi sứ mạng kèm theo. Trong Kinh Thánh, khi đặt tên cho vật hay người nào, nghĩa là hàm chứa con người hay vật ấy thuộc về người gọi tên cho. Do đó, nơi các dân tộc tên thần linh rất quan trọng; nơi dân Babilon, họ gán cho thần linh tối cao của họ là Mạc-đốt (Mardouk) bằng nhiều tên khác nhau, có lúc dân Canaan lại dấu tên thần linh mà chỉ dùng một từ đặc biệt “Baan”, gắn liền với nơi chốn nào đó.
 
Với dân Israel, Thiên Chúa lại chiếu cố và Mạc Khải cho họ biết tên của Người, trong nhiều dịp và nhiều biến cố khác nhau, như dấu chỉ Thiên Chúa muốn thiếp lập mối tương giao gần gũi với dân Người, và là tên gọi để cầu khẩn; Danh đó có sức mạnh quyền năng phù trợ con người.
 
Thiên Chúa được gọi bằng nhiều tên khác nhau, và ngay từ rất sớm, con người đã kêu cầu Đức Chúa;[7] Ngườiđược gọi là El Shaddai (en sa-đai).[8] “Đấng Toàn Năng” ở trên cao, hay cũng còn được gọi là “Đức Chúa là Đấng Tối Cao”,[9] để chỉ sự khác biệt khỏi các thần ít quyền năng hơn. Để có thể hiểu phần nào nội dung của Mạc Khải Danh Thánh, cần giải quyết hai vấn đề: một là nghĩa từ “YHWH”, hai là ý nghĩa chung và tầm quan trọng của Mạc Khải chứa trong đó. Từ “YHWH” dựa vào những từ gốc của tiếng Hipri, một số tác giả cho rằng, ở đây là dạng mạnh của động từ chủ động có nghĩa làm cho hiện hữu, là nguyên nhân của sự hiện hữu. Khi nói về chính mình,Thiên Chúa dùng ngôi thứ nhất số ít “Ta là”; Dịch sát nghĩa: “Ta là Đấng Ta là”. Tuy vẫn là một ẩn danh, nhưng chính Thiên Chúa mạc khải tên của Người cho Môsê như một bảo đảm cho lời hứa, một danh hiệu để kêu cầu và được che chở. Thiên Chúa là Đấng độc nhất thực sự hằng hữu; chỉ có Người thực sự nắm quyền và là Đức Chúa của Israel. Dù được biết tên Thiên Chúa, nhưng danh hiệu ấy trổi vượt và luôn bí ẩn đối với Israel; dù vậy, Đấng ấy đang có mặt và hoạt trong lịch sử dân Người và cả lịch sử nhân loại nữa.
 
2. Khuôn mặt nhân hậu của Thiên Chúa
 
a. Chúa Cha đầy yêu thương
 
Chiêm ngắm Chúa Kitô, người môn đệ nhận biết Thiên Chúa là người Cha đầy yêu thương. Thiên Chúa là tất cả mầu nhiệm ở việc sinh hạ; Người là một mầu nhiệm tình yêu. Người là Thiên Chúa trong tư cách là Cha và sinh hạ bằng cách yêu thương (1Ga 4,9). Thiên Chúa đã sinh hạ Chúa Con cho trần gian và qua đó cho thấy Người là tình yêu.
 
Tình yêu của Thiên Chúa trước hết hướng đến Con Chí Ái (Cl 1,13). Cha và Con liên kết với nhau bằng tương quan tình yêu. “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến Tôi, là vì Tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của Tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha Tôi mà Tôi đã nhận được”.[10] Thái độ đáp trả trọn vẹn của Người Con khơi dậy tình yêu của Chúa Cha, tức là khơi dậy hành vi sinh hạ. Người Con đã lãnh nhận tất cả từ nơi Chúa Cha, để rồi Người Con lại dâng hiến tất cả cho Chúa Cha. Như thế, Chúa Cha là cội nguồn và Người Con là đích điểm của hành vi sinh hạ. Người là tình yêu và mọi sự hoàn thành ở nơi Người.
 
b. Chúa Cha giàu lòng từ bi hay thương xót
 
Thiên Chúa là tình yêu nên không thể dửng dưng, chẳng chạnh lòng thương xót đối với những đứa con đang chìm ngập trong đau khổ và sự chết. Chính trong tình yêu mà Đức Kitô đã đến trần gian để liên kết với con người và sống thân phận của con người (Hr 4,15). Những đau khổ của Đức Kitô và của con người hẳn phải có tác động nơi lòng dạ Thiên Chúa. Thần học gọi tâm tình đó là lòng thương xót của Thiên Chúa.
 
Trong Cựu Ước, Thiên Chúa nhiều lần bày tỏ lòng từ bi thương xót của Người đối với dân riêng.[11] Đến thời Tân Ước, lòng từ bi nhân hậu được bày tỏ nơi Mầu Nhiệm Nhập Thể là Đức Giêsu. Đức Giêsu chạnh lòng thương xót thì cũng chính là Thiên Chúa chạnh lòng thương xót. Thiên Chúa thương xót Đấng Kitô của Ngài, động lòng trắc ẩn trước những thử thách và đau khổ của Israel; nhờ lòng nhân hậu đối với loài người, Thiên Chúa còn đi đến và trở nên người đồng hành, cùng chịu đau khổ với họ trong Thánh Tử.
 
Thiên Chúa là tình yêu. Hạnh phúc của Thiên Chúa không thể cạn kiệt, vì đó là hạnh phúc viên mãn của tình yêu. Thế nhưng, đặc tính của tình yêu lớn lao có thể làm cho hạnh phúc và đau khổ cùng tồn tại như pha trộn vào nhau, trong đó hạnh phúc dư tràn và bao trùm đau khổ. Chẳng hạn, kinh nghiệm của người Cha khi tìm lại được đứa con hoang đàng.[12] Tình yêu của Thiên Chúa vượt trên tình yêu của con người, nhưng chắc chắn phải có gì giống với tình yêu mà Thánh Thần của Ngài khơi lên trong lòng tín hữu (Rm 5,5). Do đó, chúng ta có thể nói: Thiên Chúa đã ngắm nhìn Con Chí Ái vượt qua đau khổ mà đến cùng Ngài với sự chạnh lòng thương vô biên và niềm vui tràn trề. Vậy, đau khổ cùng với người mình yêu thương và hạnh phúc vô hạn không phải là không thể đi đôi với nhau.
 
Thiên Chúa là Cha đầy lòng thương xót và cũng là Đấng nhân hậu từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng (Xh 34,6). Kinh Thánh Cựu Ước diễn tả lòng nhân hậu của Thiên Chúa bằng từ ngữ “Hesed”: Người là lòng tốt, tín trung, hay tha thứ.[13] Thiên Chúa là Cha nhưng lại yêu thương như người mẹ.[14] Trong Cựu Ước, lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa khơi nguồn từ tình Cha của Đức Giêsu, là Cha đầy lòng nhân hậu (2Cr 1,3). Trong vực thẳm của đau khổ, khi Người đã “trở nên tội vì chúng ta” (2Cr 5,21), thì Thiên Chúa đã đổ tràn trên Người lòng từ ái của Ngài và đã phục sinh Người trong nguồn an ủi vô biên của Thánh Thần.
 
3. Ca ngợi lòng nhân hậu của Thiên Chúa
 
Dân Israel đã vì phạm Giao ước, cho nên họ không thể đòi cho mình có quyền hưởng lòng nhân hậu của Thiên Chúa bằng cách dựa vào sự công bằng pháp lý. Dù vậy, Israel vẫn có thể hy vọng và tin tưửng là mình sẽ nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa của Giáo ước thực sự có trách nhiệm về tình thương của Ngài. Hiệu quả của tình thương đó, chính là ơn tha thứ, sự phục hồi ân sủng và việc tái lập Giáo ước nội tâm. Chính vì thế Dân Chúa đã không ngừng ca ngợi Thiên Chúa là Đấng giàu lòng nhân ái, chậm giận và luôn tha thứ.
 
Chính yếu tố đó, mà các tác giả Sách Thánh, đặc biệt các tác giả Thánh Vịnh đã không ngừng cầu khẩn và ca ngợi Thiên Chúa với lòng tràn đầy tin tưởng “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng... lòng thành tín của Ngài” (Tv 89,2). Câu Thánh Vịnh này như là một điệp khúc của bài ca yêu mến mà mọi người sẽ hát ca khen Thiên Chúa. Đây cũng là thái độ khiêm tốn nhìn nhận những giới hạn của con người trước lòng thương xót của Thiên Chúa.[15] Cũng thế, trước những tiếng kêu van của tác giả Thánh Vịnh không ngừng vang vọng “xin thương xót”, nhưng cũng lại chứa đầy niềm xác tín vào lòng nhân hậu “vượt qua” và “vững bền” của Thiên Chúa.[16]
 
B. Tân ước: Thiên Chúa là Đấng Nhân Lành
 
Tân Ước trình bày dung mạo của Thiên Chúa là Đấng Nhân Lành qua Đức Giêsu. Chính Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa, đã làm người và mạc khải cho ta biết Thiên Chúa là Cha Nhân Lành, bởi Người xuất phát từ Thiên Chúa,[17] và cũng chính Người thể hiện lòng nhân lành của Thiên Chúa cho nhân loại yếu hèn và tội lỗi được biết. Mạc khải này thật gần gũi với con người và con người có thể dễ dàng nhận ra phẩm tính này. Quả vậy, Thiên Chúa Nhân Lành không là một ý niệm suông, trừu tượng, cũng chẳng phải do con người suy tư chính bản thân mình để rồi gán ghép cho Thiên Chúa, nhưng là ân huệ được thông ban như một sự tham dự vào phẩm tính của chính Thiên Chúa. Qua cuộc đời trần thế của Đức Giêsu giúp ta nhận ra những khía cạnh khác nhau của lòng nhân lành: “sao ông lại gọi Tôi là nhân lành? Chẳng có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” (Lc 18,19), và kêu gọi mọi người hãy bắt chước lòng nhân lành của Thiên Chúa. “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36) và lòng nhân lành ấy luôn mở rộng cho mọi người không giới hạn, bất chấp họ là người xấu hay tốt, tội lỗi hay tốt lành: “Vì Ngài vẫn nhân hậu với phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6,35). “Vì Ngài cho mặt trời của Ngài mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương”.[18]
 
Đức Giêsu, Ngôi Lời phát xuất từ Thiên Chúa và đã đến trong thế gian, chính Người là nguồn ân huệ Thiên Chúa ban cho nhân loại. Nơi Người, ta nhận ra lòng nhân từ hay thương xót và tha thứ của Thiên Chúa; và qua Người, ta biết sống thế nào như người con thảo hiền đối với Cha trên trời.
 
1. Đức Giêsu: hiện thân của lòng thương xót
 
Đức Giêsu Nazareth là người con của dân tộc Do Thái đang bị đế quốc Rôma cai trị. Cha mẹ Người là những thợ thủ công nghèo làm việc sinh sống bằng đôi tay lao động. Trong cuộc sống, Người cũng có mối liên hệ với những người đồng hương cũng như cả những người lân bang. Người cũng mang chung nhịp đập với tình yêu quê hương dân tộc. Người cũng chia sẻ mọi cảnh sống nghèo nàn cơ cực, thổn thức với người đau yếu bất hạnh, kiên nhẫn chờ đợi, nhưng cũng thẳng thắn dứt khoát, không khoan nhượng với điều xấu, bất công cũng như tội ác,... Các sách Tin Mừng không chỉ tường thuật Đức Giêsu như một nhân vật lịch sử, một con người thực tế hay siêu nhiên, nhưng trên hết, các tác giả sách Tin Mừng muốn trình bày một Đức Giêsu của Tin Mừng phát xuất từ Thiên Chúa. Nhằm cổ võ và củng cố niềm tin như một điều cơ bản để con người có thể tiếp cận Thiên Chúa. Như thế, Thiên Chúa ban Đức Giêsu như là món quà tặng cho nhân loại; nơi Người là hiện thân của một Thiên Chúa ở cùng và Cứu Độ con người. “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài mà được Cứu độ”.[19]
 

Tân Ước diễn tả Đức Giêsu Kitô là hiện thân của Lòng Thương Xót và Nhân Từ của Thiên Chúa. Lòng Thương Xót ấy được bộc lộ qua lời rao giảng, chữa lành và các phép lạ nhằm cho thấy quyền năng Thiên Chúa nơi Đức Giêsu: “Xưa kia nhiều làn nhiều cách Thiên Chúa đã phán dạy với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua người Con”.[20] Chúa Kitô mang đến cho truyền thống Cựu Ước về lòng nhân từ, và giải thích bằng nhiều hình ảnh cũng như dụ ngôn, nhất là Người còn Nhập Thể và ngôi vị hóa lòng Nhân Từ ấy. Việc Nhập Thể của Ngôi Lời không phải chỉ là công việc của tình yêu Thiên Chúa, nhưng cũng là mạc khải tột đỉnh về lòng nhân từ của Thiên Chúa đã trở thành một Ngôi Vị: “Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm”(Ga 5,19).
 
Đức Giêsu Kitô, “Con duy nhất ở trong cung lòng Chúa Cha” (Ga 1,18), là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1,15); nơi Người bày tỏ toàn bộ dung mạo nhân từ của Thiên Chúa giàu lòng Thương Xót (Ep 2,4). Chúa Kitô đến trong trần gian với cuộc đời tại thế ngắn ngủi.Thế nhưng, từ lúc sinh ra cho tới khi sống lại, Người tỏ lộ rõ dung mạo Thiên Chúa giàu lòng nhân từ và thương xót cách hoàn hảo nhất; mọi hành động, lời nói, cử chỉ và mọi tiếp xúc của Người đều được hướng dẫn bởi sự chạnh lòng thương và nhân từ đối với những người lâm cảnh ngặt nghèo, những người bị bỏ rơi, những người đau ốm bệnh tật từ khắp nơi tuôn đến với Người, trong đó người nghèo, ngoại kiều và phụ nữ là loại người xã hội quên lãng bỏ rơi vẫn luôn được Thiên Chúa quan tâm.
 
Trong lời rao giảng của mình, Đức Giêsu luôn nhắc đến những lời kêu gọi thiết tha của các tiên tri xưa: “Ta muốn lòng nhân lành, chứ không cần lễ tế” (Hs 6,6); nơi bữa tiệc tại nhà ông Lêvi người thu thuế, Chúa Giêsu đặt vấn đề và đánh động các kinh sư: “Các ông hãy đi học cho biết ý nghĩa của những lời này”: Ta muốn lòng nhân từ chứ không cần lễ tế, hẳn là các ông sẽ không kết án người vô tội” (Mt 9,13). Khi rao giảng, Đức Giêsu dùng nhiều dụ ngôn để nói với dân chúng, nhưng đặc biệt hơn hết vẫn là những dụ ngôn nói về lòng nhân từ và tha thứ để loan báo lòng nhân hậu của Thiên Chúa, khi: so sánh tâm tình của người mục tử tìm kiếm một con chiên lạc; rồi câu chuyện đồng xu bị đánh mất lại tìm thấy; nhưng cảm động hơn hẳn phải là câu chuyện người con trai hư hỏng, khi quay về anh được cha đón nhận trong vòng tay nhân từ rộng mở với đầy lòng xót thương, tất cả vượt ra khỏi những dự kiến của người con thứ có được.
 
Đức Giêsu hiện rõ dung mạo của Thiên Chúa Nhân Từ và hay Thương Xót, dung mạo và tấm lòng này không bị giới hạn bởi bất kỳ hạng người nào, bất luận ngôn ngữ, chủng tộc, chính kiến, người tốt, kẻ xấu, người hiền kẻ lành hay kẻ bất lương,... Thiên Chúa đến với con người như bạn đồng hành, chia sẻ và cảm thông, những gì mà con người vẫn dành cho nhau; thế nhưng, Người còn dẫn nhân loại đến một nguồn hy vọng vĩnh cửu trào vọt từ cung lòng Đấng là “Niềm vui và hy vọng được Cứu Độ”. Niềm vui Cứu Độ này trở nên bất tận nhờ cái chết và sự sống vinh hiển của Đức Kitô.
 
2. Cuộc thương khó và phục sinh của Đức Giêsu: Đỉnh cao của lòng thương xót
 
“Mầu nhiệm Vượt Qua từ Thập Giá đến Phục Sinh của Chúa Kitô, là trọng tâm Tin Mừng mà các tông đồ và Hội Thánh tiếp nối các Ngài, phải loan báo cho thế giới Sự Chết của Thánh Tử Giêsu Kitô đã hoàn tất ý định Cứu độ của Thiên Chúa “Một lần dứt khoát”.[21] “Khi sống chết với tình thương của Chúa Cha dành cho con người bằng trọn trái tim nhân loại của mình, Đức Giêsu “đã thương yêu họ đến cùng” (Ga 13,1), vì “không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 13,1). Như vậy, trong đau khổ và cái chết, nhân tính của Người Con đã trở thành dụng cụ tự do và hoàn hảo cho tình yêu Thiên Chúa luôn ước muốn cứu chuộc loài người. Quả thật, Người đã tự do chấp nhận chịu chết vì yêu mến Chúa Cha và yêu mến loài người mà Chúa Cha muốn cứu độ: “Mạng sống của Tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Do đó, Chúa Con đã tự do tột bậc khi hiến thân chịu chết”.[22]
 
Trong hành trình rao giảng, Đức Giêsu đã tiên báo về cái chết và sự sống lại của Người, nhưng những thính giả nghe Người nói dường như chỉ dừng lại nơi kinh nghiệm về cái chết mà bất cứ ai cũng phải trải qua, hơn là quan tâm đến việc người chết sống lại. “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31), lời tiên báo ấy được lặp lại nhiều.[23]
 
Khi những Kinh sư và Pharisee xin Đức Giêsu dấu lạ, Người nhắc lại tích truyện ông Jonah trong bụng cá ba ngày đêm, và loan báo rằng: “Con Người cũng ờ trong lòng đất ba ngày đêm như vậy” (Mt 12,40). Giai đoạn cuối của cuộc đời rao giảng, Đức Giêsu đã sánh ví chính bản thân Người với đền thờ, nhằm loan báo việc thiết lập một Đền Thờ Mới và một nền Phụng Tự Mới; chính điều này như một xúc phạm tôn giáo dưới góc nhìn của các thủ lãnhDo Thái. Họ hiểu lầm Người có ý đồ phá đền thờ Jerusalem, trung tâm tôn giáo lúc bấy giờ: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19), và họ tin vào lời tuyên bố đó như bằng chứng tố cáo Người là “tên phá hoại” trước Thượng Hội Đồng Do Thái: “Tên này đã nói: tôi có thể phá đền thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày, sẽ xây dựng lại” (Mt 26,61).
 
a. Cái Chết trên Thập Giá
 
Đức Giêsu đã bị đóng đinh và chết trên Thập Giá, đó là một trong những sự kiện chắc chắn nhất của lịch sử của ngôn sứ thành Nazareth. Trước hết, khi bàn về thời gian Đức Giêsu đã chết vào ngày 14 hay 15 tháng Nisan, dựa vào Tin Mừng Nhất Lãm, thì bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu vào ngày 15 tháng Nisan. Trình bày này nhắm đến ý nghĩa bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ là bữa tiệc Vượt Qua. Nhưng theo Tin Mừng Gioan thì cái chết của Đức Giêsu diễn ra vào ngày chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua (Ga 19,14), lúc người ta sát tế các chiên vượt qua trong đền thờ. Dựa vào yếu tố này, thì Đức Giêsu chết vào ngày 14 tháng Nisan, và bữa tiệc cuối cùng của Đức Giêsu với các môn đệ không phải là bữa tiệc vượt qua, mà chỉ là bữa tiệc ly; qua đó, Gioan muốn giới thiệu Đức Giêsu là Con Chiên đích thực của lễ Vượt Qua.
 
- Về khía cạnh Giao Ước
 
Bốn bản văn tường thuật bữa tiệc ly cung cấp cho chúng ta những nội dung quan trọng phong phú: “Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy”. Và người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: Đây là Máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra vì muôn người”.[24] Tác giả Matthew thêm vào: “Được tha tội” (Mt 26,28); Còn Luca và Phaolô ghi lại: “Chén này là giao ước mới, lập bằng Máu Thầy”.[25] Các lời ấy liên kết những hành vi mà Chúa Giêsu sắp phải trải qua và hoàn tất trong cái chết nhằm cứu chuộc nhiều người.
 
- Về khía cạnh chuộc lấy
 
“Hi Agorazein”, từ này có thể cho ta hiểu hai nghĩa. Tiêu cực: nghĩa này đòi buộc con nợ phải có một sự đền bù công bằng tương xứng mới có thể chuộc lấy; nghĩa tích cực: chúng ta được đứng về phía Thiên Chúa, nhờ Giao Ước mà các điều kiện được thỏa đáng và được chuộc lấy bằng giá đắt.[26] Dù đây là hình bóng của Cựu Ước được Tân Ước đưa ra mức hoàn chỉnh, nhờ Máu Chiên Tinh Tuyền chuộc lấy tất cả nhân loại, cho họ chung hưởng gia nghiệp của Thiên Chúa, bằng giá Máu dành cho muôn người trong mọi thời đại (Kh 5,9).
 
Những hành vi này gợi lại nghi lễ của Cựu Ước: “Máu Giao Ước” nhắc lại giao ước Sinai đã được ký kết trong máu (Xh 24,8) xưa kia là máu tế vật, nay là hy tế mới Máu Đức Kitô sẽ đổ ra, để thực hiện cách hữu hiệu sự hiệp thông vĩnh viễn giữa Thiên Chúa và con người. Như thế, lời hứa khi xưa nay được hoàn tất trong Giao Ước Mới. Đức Giêsu đồng hóa mình như người “tôi trung đau khổ” (Is 53,11) dâng hiến mạng sống như “hy lễ xá tội” (Is 53,10). Nhờ đó, Người trở nên Đấng trung gian Giao Ước, hầu làm sáng tỏ đức công chính của Thiên Chúa và nên ánh sáng chiếu soi muôn dân (Is 42,60).
 
b. Sống lại
 
Với nhóm môn đệ Đức Giêsu, dù đã nghe những lời loan báo về cái chết và sự sống lại của Thầy trước đó, nhưng đứng trước cái chết và cuộc mai táng Thầy trong âm thầm kín đáo, với phiến đá khép cửa mồ lại, tất cả đều dừng lại nơi mộ sâu giá lạnh, cùng với sự thất vọng ê chề và đầy hoang mang. Rồi tin tức từ những người phụ nữ ra mộ vào lúc sáng sớm tinh sương về loan bao “Thầy đã sống lại”, các ông không thể tin nổi; dù vậy, họ cũng ra mồ để kiểm chứng và trước mắt họ chỉ là ngôi mộ trống. Các ông vẫn còn đang kinh hoàng về cái chết của Thầy, giờ các ông lại kinh ngạc hơn nữa trước sự kiện mồ trống; ngoại trừ môn đệ Gioan, ông thấy và tin (Ga 20,8).
 
Với ân huệ Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ Tuần, các tông đồ mạnh dạn rao giảng công khai cho mọi người không chút sợ sệt. Nội dung của lời rao giảng là cái chết trên Thập Giá và sự Phục Sinh của Đức Giêsu, cũng chính là đối tượng cơ bản của Đức Tin Kitô giáo. Các ông nhân danh Người mà rao giảng, và chính Người là Đấng mang lại ơn cứu độ cho mọi người và mọi thời đại. “Chính anh em là những chứng nhân của những điều ấy” (Lc 24,48), không chỉ rao giảng, các môn đệ Đức Giêsu còn bị chất vấn, tra hỏi, tù đày và sau cùng là cái chết đế minh chứng và bảo vệ niềm tin vào Đấng Phục Sinh; và suốt dòng lịch sử, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, biết bao con người rao giảng và làm chứng cho niềm tin vào Đấng Cứu Độ, dù họ có phải trả giá bằng bắt bớ, tù ngục, roi đòn hay bách hại và kể cả cái chết.
 
Cái Chết và cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô là nền tảng không thể lay chuyển được Đức tin của Kitô giáo. Mầu nhiệm Phục Sinh không phải là một lý thuyết trừu tượng, cũng không phải là một kinh nghiệm mà ai cũng có được, cũng không phải là việc hướng hy vọng của con người vào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây là một sự kiện được xác nhậnbởi các chứng nhân, những chứng nhân mà Thiên Chúa đã tuyển chọn và chuẩn bị cho nhiệm vụ này, khi mời gọi họ chia sẻ cuộc sống và thừa tác vụ của Đức Giêsu.[27]
 
Con đường độc nhất để chúng ta đạt đến sự kiện lịch sử này chính là chứng tá của những người loan báo Tin Mừng Cứu Độ, loan báo tình yêu đã thắng tội lỗi và cái chết, trong cái chết và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Cuộc mạc khải ơn cứu độ do Người thực hiện vẫn liên lỉ cần đến sự môi giới của lịch sử. Mặc dù mọi suy tư Thần học đều liên kết với sự kiện này, vốn là mạc khải sung mãn của Thiên Chúa dành cho loài người; do đó, sự kiện này mang tính chất dễ hiểu đối với con người, có thể được diễn tả bằng lời, dù mạc khải này được xét theo sự tương hợp của nó với chính sự kiện. Vì Đức Giêsu đã bị “trao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại, để chúng ta được nên công chính”.[28]
 
3. Con người được thừa hưởng ân huệ của lòng thương xót
 
Đức Giêsu thiết lập Nhóm Mười Hai như nền tảng của dân Israel mới thời Tân Ước. Họ ở với Người, chứng kiến cái chết và sự sống lại của Người; rồi trước khi rời khỏi các ông, Người truyền cho các ông: “Anh em hãy đi và làm muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.[29] Biến cố lớn lao của ngày lễ Ngũ Tuần, trong tác động của Thánh Thần, Giáo Hội được khai sinh như một cơ cấu hữu hình, nhưng phục vụ cho mục tiêu cũng như cùng đích vô hình và thiêng liêng. Cộng đoàn hữu hình quy tụ những người tin vào Chúa Kitô, nhận lãnh phép rửa được hiệp thông với Đức Kitô, liên kết thành dân Chúa, và nhờ vậy được tham dự cách thế riêng vào chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương giả của Đức Kitô. Nhằm liên kết và nuôi dưỡng lòng tin vào Đức Kitô, cộng đoàn tín hữu sơ khai “chuyên cần lắng nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). “Chắc chắn trong mọi thời đại và mọi dân tộc, bất cứ người nào kính sợ Thiên Chúa và ăn ở ngay lành đều được Người đoái thương” (Cv 10,53). Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu độ con người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Người muốn quy tụ họ thành một dân tộc, để họ nhận biết Người trong Chân Lý và phụng sự Người trong thánh thiện. Vì thế, Người chọn dân Israel làm dân Người, thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và hình bóng của Giao Ước Mới hoàn hảo sẽ được ký kết trong Đức Kitô; Đó là Giao Ước Mới trong máu Người, Người triệu tập một dân đến từ dân Israel và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần.[30]
 
Kể từ cái chết và Sự Phục Sinh vinh hiển của Đức Kitô, Người phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách: “Tất cả chúng ta, dù là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều chịu Phép Rửa trong cùng một Thần Khí duy nhất” (1Cr 12,13). Trong máu của Người, Dân Mới được thiết lập dành cho hết mọi người không phân biệt, để tất cả nên một trong Đức Kitô, cùng chung chia một lòng tin duy nhất, hầu “tất cả những ai kêu Danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát” (Rm 10,13). Niềm tin ấy có căn cội dựa trên những nền tảng vững chắc và tinh tuyền nơi Tổ phụ Abraham; ông không cậy dựa vào công việc mình làm hay những gì luật dạy như một phương thế để nên công chính, nhưng “Abraham đã tin Thiên Chúa, và vì thế được kể là người công chính” (Rm 4,3), lòng tin của người tin Chúa gắn chặt vào lòng tin của tổ phụ, “ông là người cha của mọi kẻ tin” (Rm 4,11) “và là tổ phụ của nhiều dân tộc” (Rm 4,17).
 
Qua Đức Giêsu Kitô, mọi người đều trở thành đối tượng của ân huệ và lòng thương xót, mặc dù ơn huệ được ban tràn trề cách nhưng không cho mọi tạo vật, nhưng lòng thương xót ấy cũng phải được con người đáp lại như thiện chí cộng tác:
 
- Trước hết là lòng tin kính Thiên Chúa duy nhất làm chủ vũ trụ muôn loài. Tin Đức Giêsu Con Thiên Chúa xuống thế làm người, chịu chết và sống lại, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, và cũng là Đấng sẽ trở lại phán xét thế gian, lòng tin này được thể hiện bằng việc “thờ phượng đích thực, thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4,23).
 
- Tiếp đến, người tin vào Thiên Chúa gia nhập cộng đoàn Giáo Hội hữu hình qua Phép Rửa tái sinh, nhờ lãnh nhận các Bí tích và suy ngắm Lời Chúa, được nuôi dưỡng và nên lớn mạnh;thế nên, người tín hữu trưởng thành, sống bác ái, chia sẻ, khuyến khích nhau tuân giữ luật Chúa, và luyện tập nhân đức phù hợp với bậc sống của người tin Chúa Kitô.
 
II. THẦN HỌC
 
A. Lòng nhân hậu là một sáng kiến từ Thiên Chúa qua Con Một
 
1. Sáng kiến Thiên Chúa
 
Lịch sử cứu độ cũng là lịch sử hòa giải;[31] Thiên Chúa là Cha, đã hòa giải thế giới với mình trong Chúa Con, Ngôi Lời Nhập Thể. Nhờ đó, nhân loại trở thành một gia đình được hòa giải. Hội Thánh có sứ mạng phục vụ công cuộc hòa giải mà Thiên Chúa đã thực hiện trong Đức Kitô.
 
Thực ra, chính Đức Kitô đã mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương, một người Cha không ngừng yêu thương đứa con lầm lạc và sẵn sàng tha thứ khi nó quay trở về. Thiên Chúa luôn trung tín với tình yêu, cho dù con người có bất trung, phản bội. Tình thương này được sáng khởi từ phía Thiên Chúa, đã được thực hiện cụ thể và hiển nhiên trong công cuộc cứu độ của Đức Kitô, rộng tỏa khắp thế giới nhờ tác vụ của Hội Thánh.
 
2. Mầu nhiệm vượt qua là trung tâm lòng thương xót của Thiên Chúa
 
Bí tích Hòa Giải được Đức Giêsu thiếp lập cách riêng để ban ơn tha thứ tội lỗi mà các tín hữu đã phạm sau khi lãnh Phép Rửa. Công hiệu của tất cả các Bí tích đều bắt nguồn từ một mạch duy nhất, đó là mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô: “sự hữu hiệu của các Bí tích là do sức cứu độ của công cuộc Chúa Kitô đã thực hiện một lần là đủ”.[32] Trên Thập Giá, Thiên Chúa đã bày tỏ sự công minh và khoan nhân: Người kết án tội lỗi qua hy lễ xá tội của Đức Kitô (x. 2Cr 5,21); nhưng ngược lại, Người bày tỏ lòng khoan nhân bởi vì qua hy lễ ấy: “Thiên Chúa cất đi tội lỗi. Vì tội lỗi là điều làm cho con người trở thành thù nghịch của Thiên Chúa. Cũng thế, sự đau khổ mà Đức Kitô tự nguyện chịu là một điều tốt lành lớn lao hết mức. Khi thấy điều tốt lành ấy, Thiên Chúa được nguôi lòng, không còn cảm thấy bị xúc phạm bởi tội lỗi của nhân loại”.[33] Qua cuộc Phục Sinh của Đức Kitô, Người đã ban Thánh Thể, sức mạnh chiến thắng tội lỗi và sống cuộc đời mới. Bí tích Hòa Giải thông ban cho ta ơn hòa giải được thực hiện từ biến cố Vượt Qua của Đức Kitô.
 
Tiếc thay, trong quá khứ, ta hay nhấn mạnh đến quyền “cầm buộc” và “tháo cởi”, đến tính cách “phán xét” của Bí tích Hòa Giải. Tông huấn Hòa Giải và Sám Hối nêu rõ: “Bí tích này là một hành vi pháp lý, nhưng hành vi này diễn ra trước một tòa án xét xử tình thương xót hơn là lượng công chính nghiêm khắc, cho nên tòa án chỉ giống tòa án phàm nhân theo loại suy mà thôi”.[34] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo xếp Bí tích này vào các Bí tích “chữa lành”; việc chữa lành vừa hàn gắn vết thương, vừa hồi phục sức để làm lại cuộc đời.
 
3. Bí tích của tình thương
 
Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế Lumen Gentium nói rằng: “Những ai đến nhận lãnh Bí tích Hòa Giải đều được Thiên Chúa nhân từ tha thứ những xúc phạm đến Người. Đồng thời, họ được giao hòa cùng Giáo Hội mà tội lỗi họ đã làm tổn thương. Nhưng Giáo Hội hằng nỗ lực lấy đức ái, gương lành và kinh nghiệm để hoán cải họ”.[35]
 

Đoạn Tin Mừng Matthew 18,15-18;21-22 có thể là cốt lõi của Bí tích Hòa Giải, vì đó là chỉ dẫn cách thức của việc thực thi lòng mến. Trong cộng đoàn, nếu có người anh em nào trót phạm tội, dĩ nhiên là tội nặng, thì hãy sửa dạy, làm cho họ hồi tâm lại mà quay về với Thiên Chúa trong ăn năn sám hối. Nếu thất bại, hãy lập một nhóm huynh đệ và cũng đối xử như thế với họ. Nếu tiếp tục thất bại thì mới đưa ra cộng đoàn. Cộng đoàn sẽ loại người ngoan cố ấy ra khỏi sự hiệp thông, nhưng vẫn mong chờ có ngày sẽ nhận lại người ấy trong sự hòa giải. đó là cách cư xử đối với người phạm đến Thiên Chúa.
 
Đức Giêsu bảo đảm rằng, hết thảy những gì Hội Thánh dưới đất làm đối với tội lỗi và các tội nhân, thì cũng được Thiên Chúa chuẩn nhận. Cộng đoàn Hội Thánh cũng phải họp nhau cầu nguyện và xin Thiên Chúa ban ơn sám hối cho người anh em lạc lối, và đoan chắc rằng lời cầu nguyện sẽ có hiệu lực bởi Thiên Chúa tác động và hiện diện trong cộng đoàn (x. Mt 18,20; 28,20). Không lạ gì Thánh sử Matthew là người duy nhất nhắc đến sự hiện diện đặc biệt của Đức Giêsu trong cộng đoàn tín hữu khi bàn về sự hòa giải. Sự hiện diện của Đức Kitô giữa anh em Người được xác quyết mạnh mẽ; Đó cũng là một sự ủy nhiệm Người trao cho cộng đoàn đang hình thành: “Thầy bảo thật anh em, dưới đất, anh em cầm buộc những gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”.[36]
 

Rõ ràng những lời trên không nhắm trước hết cho những người đồng thời với Đức Giêsu: Người ở giữa họ và chẳng cần phải nhấn mạnh đến sự hiện diện ấy khi họ họp nhau lại. Sứ điệp ấy nhắn gởi các cộng đoàn sau khi Đức Kitô Phục Sinh. Đời sống của họ được biểu lộ đặc biệt qua sự tha thứ và mọi người họp nhau lại để cầu nguyện. Đời sống ấy quả là nơi Thiên Chúa hiện diện cách đặc biệt.
 
Thánh Matthew nhấn mạnh đến lệnh truyền: sự hiện diện của Người và đời sống cộng đoàn, nhất là khi cộng đoàn thi hành “quyền tháo cởi hay cầm buộc” cũng phải thể hiện lòng nhân hậu của Thiên Chúa đối với hối nhân;bởi chính Thiên Chúa dẫn đưa những người được cứu độ đến với Hội Thánh (x. Cv 2,47) và mỗi hối nhân là đối tượng tình yêu của Thiên Chúa. Cộng đoàn đã được lòng thương xót của Người triệu tập, là cộng đoàn đã được thương xót và đồng thời cũng là dụng cụ của lòng thương xót ấy. Cho nên, cộng đoàn ban tặng ơn tha thứ cho anh em mình cách quảng đại và nhân ái: “Thầy không bảo là đến bảy làn, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”.[37]
 

Đối với thánh Gioan, sau khi Phục Sinh, Đức Giêsu đã ban cho các môn đệ sự bình an và sai họ ra đi tiếp nối sứ mạng của Người: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Người thổi hơi trên họ, chuyển thông Thánh Thần cho họ, Thánh Thần ban sinh lực mới và bình an (x. Ed 37,1-14). Trong bối cảnh đó, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em càm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.[38]
 
Ở đây chúng ta phải hiểu việc tha thứ tội lỗi không chỉ giới hạn ở việc Phép Rửa cho những người dự tòng, nhưng cả việc tha tội cho những Kitô hữu sau khi lãnh nhận Phép rửa: “Người đã thiết lập Bí tích Sám Hối trong Hội Thánh, để các tín hữu phạm tội sau khi chịu Phép Rửa, nhờ ơn tái ban, được giao hòa với Thiên Chúa”.[39] Quyền này được Đức Kitô Phục Sinh trao ban cho các môn đệ, nhưng chắc chắn không chỉ giới hạn vào số người hiện diện trong phòng Tiệc Ly lúc ấy; quyền tha tội sẽ được tiếp tục duy trì trong các cộng đoàn trải qua mọi thời đại.
 
B. Bí tích Hòa Giải như là Mầu nhiệm Vượt Qua
 
1. Bí tích Hòa Giải và Mầu nhiệm Vượt Qua
 
Lịch sử cứu độ phát xuất từ sáng kiến trong ý định muôn đời của Thiên Chúa, và đã được can thiệp trực tiếp vào lịch sử của con người. Sự can thiệp này phát xuất từ tình yêu vô biên và nhưng không của Thiên Chúa Thương Xót. Người mong muốn và mời gọi mọi người hiệp thông với Người cũng như với tất cả anh chị em mình.
 
Bí tích Hòa Giải không phải là một hành vi tâm lý nhằm giải tỏa gánh nặng lương tâm, cũng không phải là một hành vi luân lý nhằm sửa chữa sự đổ vỡ do điều ác gây ra. Nhưng trước hết, đó là một hành vi siêu nhiêu, một hành vi tôn giáo, là sự đáp trả tình yêu của Thiên Chúa nhập thể trong lịch sử nhân loại. Chính trong sự đáp trả ấy bắt nguồn từ sáng kiến và tình thương của Thiên Chúa lôi kéo hối nhân qua Hội Thánh Người. Hội Thánh bày tỏ tình yêu thương của Thiên Chúa qua nhiều cách thức khác nhau, nhất là qua việc loan báo Tin Mừng tình thương, hòa giải và tha thứ. Sứ điệp này đánh động và thay đổi chiều sâu nội tâm của hối nhân. Ân sủng của Thiên Chúa sẽ tác động tâm hồn, củng cố đức tin và dẫn dắt từng bước trên con đường hoán cải để hối nhân có thế đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa. Cuối cùng, qua dấu chỉ Bí tích, Thiên Chúa ban cho hối nhân ơn hòa giải để sống thân mật với Người.
 
Ơn tha tội của Thiên Chúa được ban cho nhân loại một lần duy nhất nơi Thập Giá Đức Kitô. Biến cố Vượt Qua của Đức Giêsu là biến cố duy nhất bao gồm Tử Nạn-Phục Sinh và Thăng Thiên. Trong biến cố này, có một hồng ân cao cả nhất mà Thiên Chúa ban cho loài người, và đáp trả trọn vẹn nhất của loài người dâng lên Thiên Chúa nơi Đức Kitô vâng phục và chết trên Thập Giá. Vì Đức Kitô đã dâng hiến trọn vẹn bản thân cho Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã tôn vinh Người, đặt Người làm Chúa. Cái chết của Đức Giêsu là một cái chết lịch sử nhưng lại vượt trên lịch sử, đưa con người tới chỗ hoàn tất viên mãn. Chính vì thế, nó đã trở thành bất diệt, có giá trị cứu độ cho mọi thời đại và mọi nơi.
 
Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, sự chiến thắng tội lỗi của Người vẫn hiện diện cách huyền nhiệm nơi Hội Thánh là Bí tích của Đức Kitô Phục Sinh. Sự hiện diện này là động lực làm cho Hội Thánh luôn hướng về sự Hoàn Tất Cánh Chung. Mỗi Bí tích là một hành vi mà Hội Thánh biểu lộ cách đặc biệt lòng nhân hậu của Thiên Chúa, bằng sự hiện diện tác động từ mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô trong lịch sử nhân loại. Sự biểu lộ lòng nhân hậu này mang hai chiều kích: biểu lộ tình yêu thần linh của Đức Kitô đối với loài người, và tình yêu nhân loại của Đức Kitô đối với Thiên Chúa. Do đó, mỗi Bí tích đều là một biến cố Vượt Qua, biểu lộ và thể hiện cơ cấu Bí tích Hội Thánh đối với mỗi người trong từng hoàn cảnh cụ thể của họ. Nhờ đó, họ được liên kết với biến cố Vượt Qua của Đức Kitô và được cứu độ. Bí tích Hòa Giải cũng thế, trước khi nghĩ đến ơn được tha tội, hối nhân phải nghĩ ngay đến hành động chết và sống lại của Đức Kitô mà họ cũng như Hội Thánh đang tái diễn; nhờ đó mới có ơn tha tội và các ân sủng khác.
 
2. Chiều kích Vượt qua của Bí tích Hòa Giải
 
Khi bàn về mối liên hệ giữa biến cố Vượt Qua của Đức Giêsu và việc cử hành Bí tích Hòa Giải, các tác giả cũng giải thích khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi người về Bí tích này. Để giải thích chiều kích Vượt Qua của Bí tích Hòa Giải, một số tác giả khởi đi bằng cái nhìn có tính cách “tòa án”. Bí tích này thể hiện cuộc gặp gỡ giữa hối nhân và Thiên Chúa, làm cho việc cử hành Bí tích này xảy ra đồng thời với biến cố Vượt Qua của Đức Kitô. Bởi vì, cái chết của Đức Giêsu trên Thập Giá cũng là việc xử án của Thiên Chúa, một bản án đối với tội lỗi, một cuộc luận phạt tội lỗi của thế gian. Tuy nhiên, với việc Phục Sinh của Đức Kitô, thì bản án đã được đổi chiều; thay vì kết án, nó lại biến thành bản ân xá và đưa hối nhân từ sự chết đến sự sống. Vì vậy, Bí tích Hòa Giải là một Bí tích mang dấu hiệu tưởng niệm cuộc luận phạt của Thiên Chúa trên tội lỗi, được thực hiện trong sự chết và sống lại của Đức Kitô.
 
Hơn nữa, trong Bí tích Hòa Giải, lòng nhân hậu của Thiên Chúa ban cho hối nhân còn trổi vượt hơn sự lên án, vì hối nhân chấp nhận tội của mình bị kết án qua cái chết củaĐức Kitô và được làm hòa với Thiên Chúa qua cuộc Vượt Qua của Người. Cách giải thích trên là một cố gắng khi đề cập đến chiều kích Vượt Qua của Bí tích Hòa Giải. Việc giải thích trên cho thấy tính cách mầu nhiệm của việc tha thứ các tội và việc lên án tội lỗi có tính cứu độ, hoàn toàn khác xa tòa án ngoài xã hội.
 
Theo các nhà chú giải Thánh Kinh ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa biểu lộ và thể hiện qua cái chết của Đức Kitô không phải là sự công chính mang tính cách báo thù nhằm trừng phạt tội nhân, nhưng sự công chính của Thiên Chúa có tính cứu độ và cho thấy lòng trung thành cũng như yêu thương của Người. Tình yêu của Thiên Chúa chỉ muốn và chỉ thực hiện là làm cho hối nhân nên công chính, khi Thiên Chúa chấp nhận sự vâng phục của Đức Kitô cho đến sự chết, như là bằng chứng cho việc nhân loại vâng lời để được thoát khỏi mọi tội. Sự công chính của Thiên Chúa làm cho con người nên công chính, và cứu độ nhân loại là sự công chính đầy yêu thương nhân hậu cũng như trung thành đối với con người, khi Thiên Chúa thực hiện sự công chính này trong cái chết và sự sống lại của Đức Kitô.
 
Với cái nhìn Bí tích Hòa Giải như là một tòa án, vì thế, một số nhà thần học đã đưa ra một lối giải thích khác về chiều kích Vượt Qua của Bí tích Hòa Giải. Lối giải thích này khởi đi từ cái nhìn về cơ cấu và ý nghĩa nền tảng của Bí tích. Với thời gian, Bí tích Hòa Giải có những hình thức bên ngoài thay đổi những điểm chính yếu trong cách cử hành, như cử hành của Hội Thánh lo cho hối nhân trở về hòa giải với Người và cùng với Hội Thánh. Việc hòa giải này được thực hiện qua Hội Thánh và trong Hội Thánh theo lệnh truyền của Thiên Chúa.
 
Dấu hiệu bên ngoài được cấu tạo do hành động sám hối của hối nhân và lời tha tội của thừa tác viên. Các hành động của hối nhân được biểu lộ ra bên ngoài và cụ thể là sự nỗ lực trở về của hối nhân. Còn hành vi tha tội cách hữu hiệu biểu lộ ra bên ngoài tình yêu nhân từ thương xót của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, để đáp ứng lại hành vi sám hối của hối nhân và chính hành vi sám hối trở về này cũng đã là một ân huệ của Thiên Chúa ban cho hối nhân rồi.
 
Qua việc cử hành này, Hội Thánh được Chúa Thánh Thần của Đức Kitô hướng dẫn, chiến đấu để đạt tới chiến thắng chống lại tội lỗi nơi các phần tử của mình cũng như thế giới. Đồng thời, Hội Thánh cũng cộng tác tích cực trong việc hòa giải họ với Thiên Chúa và với nhau, nhờ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần. Như vậy, Bí tích Hòa Giải trước tiên là dấu hiệu của một cuộc trở lại và việc hòa giải những hối nhân đang thực tâm sám hối trước mặt Thiên Chúa và với tha nhân.
 
Từ ý nghĩa đầu tiên và nền tảng này của Bí tích Hòa Giải, chúng ta nhận ra cuộc gặp gỡ giữa hối nhân và mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Bí tích Hòa Giải là một dấu hiệu tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu Kitô: Người chấp nhận chịu chết trên Thập Giá như dấu hiệu cao cả nhất của tình yêu và sự vâng lời đối với Thiên Chúa để cứu độ nhân loại. Nghĩa là việc chịu chết này được coi như là dấu hiệu yêu thương của Người Con hướng về Thiên Chúa và tha nhân.
 
Bí tích Hòa Giải còn là dấu hiệu tưởng niệm biến cố Vượt Qua của Đức Kitô, vì đây là việc hòa giải nhưng không của con người tội lỗi với Thiên Chúa và với nhau. Hơn nữa, đây là dấu hiệu tuyệt đỉnh của tình yêu nhân từ của Thiên Chúa đầy lòng trung tín. Trong sự chết và sống lại của Chúa Kitô, Con Một Yêu Dấu, Thiên Chúa ký kết một giao ước mới vĩnh viễn và hòa giải họ lại vói nhau. Hiểu như vây, chúng ta sẽ ý thức việc xưng tội và lãnh nhận ơn tha tội không chỉ là việc làm riêng tư giữa “Thiên Chúa và tôi” nhưng là một việc có liên hệ tới biến cố Vượt Qua của Đức Kitô. Chính nhờ biến cố này mà Bí tích Hòa Giải có được tất cả hiệu lực để tha tội và hòa giải. Trong khi thực hiện cuộc Vượt Qua. Chúa Giêsu chấp nhận cái chết như Chúa Cha muốn. Sự chấp nhận này đã chiến thắng sự bất tuân của loài người đối với mệnh lệnh và chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Khi con người chấp nhận việc sám hối các tội lỗi của mình và quyết tâm quay trở về với Thiên Chúa thì Hội Thánh và hối nhân chấp nhận điều Đức Kitô đã thực hiện trên Thập Giá xưa. Việc chấp nhận này được coi như hành động yêu mến, vâng lời, quay trở về với Thiên Chúa và với người khác. Hành động sám hối này cũng được coi như là một thái độ xa lìa tính ích kỷ cố chấp của mình. Đó là những điều làm cho con người đóng kín lòng trước các yêu sách của tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.
 
Bí tích Hòa Giải cũng là dấu hiệu biểu lộ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, vì tình yêu nhân từ thương xót của Thiên Chúa được thể hiện hữu hình qua các dấu hiệu bên ngoài và qua việc Hội Thánh trung thành với sứ mạng rao giảng lòng thương xót của Thiên Chúa. Đó là lời tha thứ và thanh tẩy hòa giải với Thiên Chúa, tất cả liên kết chặt chẽ với hành vi sám hối của hối nhân khi quyết định quay trở về Thiên Chúa và Hội Thánh.
 
Ngoài mục đích tưởng niệm và biểu lộ biến cố Vượt Qua của Đức Kitô, Bí tích Hòa Giải còn là dấu hiệu tiên báo mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô trong ngày Cánh Chung. Qua việc cử hành Bí tích này, Hội Thánh cử hành các dấu hiệu cho thấy chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi và làm cho chiến thắng này được thành toàn trong ngày sau hết. Bí tích Hòa Giải như là biến cố Vượt Qua của Đức Kitô làm nổi bật tình yêu nhưng không của Thiên Chúa đối với con người tội lỗi. Tình yêu ấy được tiếp nối qua việc cử hành của Hội Thánh. Hội Thánh cử hành Bí tích Hòa Giải để làm tan biến tội lỗi nơi hối nhân và trả lại tình trạng ơn thánh nơi họ. Bề ngoài, việc đi xưng tội và Linh mục giải tội xem ra có tính cách máy móc, và có vẻ như là ma thuật với một cách thế vừa kín đáo bí mật lại vừa đơn giản công khai, nhưng thực sự tất cả (Linh mục giải tội và hối nhân) đang làm lại biến cố Vượt Qua của Đức Kitô. Chính nhờ mầu nhiệm này mà các hiệu quả tha tội, giao hòa với Thiên Chúa và được nhận lại ơn thánh, mới có thể thực hiện được, và tất cả đi vào trong đời sống người tín hữu và làm nên cuộc đời họ.
 
3. Bí tích Hòa Giải và mầu nhiệm Ba Ngôi
 
Khi nói đến chiều kích Vượt Qua của Bí tích Hòa Giải, chúng ta cũng nói đến chiều kích Ba Ng6i của Bí tích này. Vì khi hối nhân tháp nhập vào biến cố Vượt Qua của Đức Kitô là họ được giao hòa và được gặp gỡ Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng ta đã tìm hiểu lòng nhân hậu của Thiên Chúa trong Thánh Kinh qua tư tưởng của thư gửi tín hữu Do Thái về hành vi tự nguyện của Đức Giêsu để đem ơn cứu độ cho nhân loại. nói theo thánh Gioan: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy”.[40] Theo thư thư nhất của thánh Phêrô: “Lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi” (1Pr 4,8). Tình yêu thì không cố chấp, không tính toán gì cả, mà chỉ có cha và tha thứ mà thôi.[41]
 
Như vậy, trong Bí tích Hòa Giải, chúng ta đón nhận tình yêu của Đấng đã hiến mạng sống cho những người mình yêu. Tình yêu này đã phục hồi sự sống mà chúng ta đã đánh mất khi phạm tội. sự sống của chúng ta được phục hồi nhờ việc tiếp xúc với Đức Kitô Phục Sinh, nhận lãnh Thánh Thần từ Đức Kitô Phục Sinh. Trong Bí tích này, chúng ta đón nhận nước và máu chảy ra từ cạnh sườn của Chúa. Tha tội là hành vi của Chúa Cha giàu lòng thương xót, Đấng luôn luôn yêu thương; cho dù chúng ta bất trung, nhưng Người vẫn chờ đợi và tìm kiếm chúng ta để tha thứ. Đối với hối nhân, tình yêu biểu lộ cụ thể nhất qua ơn tha thứ. Tha thứ là bảo chứng của tình yêu quảng đại, tình yêu không nghĩ đến bản thân, không nghĩ tới sự xúc phạm. Tình yêu luôn tha thứ là một tình yêu không tự ái và vô điều kiện.[42]
 
Trong sự tự hiến của Đức Kitô, chính Chúa Cha đã tự hiến cho chúng ta bằng cách ban Con Một của Người cho chúng ta. Chính Đức Giêsu đã tự hiến để biểu lộ trọn vẹn nơi Thập Giá Đức Kitô. Trong Bí tích Hòa Giải, tình yêu được biểu lộ bằng sự tha thứ, sự quên mình hoàn toàn của Thiên Chúa. Điều quan trọng là nhân loại và cả vũ trụ vạn vật được giao hòa trở lại với Thiên Chúa Tạo Thành. Sự giao hòa này được thể hiện nơi Đức Kitô mà Máu Giao Ước Mới đổ ra cho muôn người được tha tội.
 
Công cuộc giao hòa cũng là công việc của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là Đấng nối kết Chúa Cha với Chúa Con trong biến cố Vượt Qua của Đức Kitô;chính Thánh Thần cũng nối kết nhân loại với Chúa Cha và Chúa Con. Trong việc trở về của hối nhân, chính Thánh Thần thúc đẩy và theo đuổi hối nhân trong những cố gắng “đứng dậy”, đặc biệt nhất là giúp đỡ hối nhân dứt bỏ được tội lỗi. Người hòa giải hối nhân với Ba Ngôi Thiên Chúa qua việc hòa giải với Hội Thánh. Trong tác động hòa giải này, tình yêu của Ba Ngôi liên kết các tín hữu lại với Chúa Cha và Chúa Con. Người là tình yêu hoạt động trong Hội Thánh để loan báo hữu hiệu Tin Mừng sự trở về và tha thứ tội lỗi do Hội Thánh thực hiện. Chúa Thánh Thần cũnglàm cho lời xá giải của Linh mục đọc lên khi tha tội được trở nên thành hiệu.
 
Tất cả những điều này giúp cho mỗi tín hữu ý thức hơn về tính cách mầu nhiệm của Bí tích Hòa Giải. Đây không phải là một hành vi tòa án, công bằng theo quan niệm thông thường của con người, hoặc như một cách thế thổ lộ tâm tình trong phạm vi tâm lý, để nhờ đó mà con người có lại sự bình an; Đây cũng không phải là một nghi lễ cử hành có tính cách ma thuật đem lại sự bình an. Trước tiên, đây là một biến cố tôn giáo, một Bí tích mang lại ơn cứu độ, một cuộc Vượt Qua mà hối nhân sẽ gặp gỡ, đụng chạm, nếm cảm được lòng thương xót của Ba Ngôi Thiên Chúa qua tác vụ của Hội Thánh.
 
III. VIỆC MỤC VỤ CỦA BÍ TÍCH HÒA GIẢI
 
A. Linh mục giải tội
 
Dựa theo Bộ Giáo Luật hiện hành (1983), thừa tác viên của Bí tích Hòa Giải phải là người có chức tư tế thừa tác,[43] ngoài quyền thánh chức đương sự còn phải được hưửng năng quyền thi hành quyền thánh chức đổi với các tín hữu, do luật định hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền cấp ban, thì việc xá giải mới có hữu hiệu.[44]
 
Cũng như khi dâng thánh lễ và cử hành các Bí tích, vị Linh mục thực hiện giao hòa cùng hiệp thông với và trong “in persona Christi” qua việc cử hành của Linh mục khi thực hiện việc xá giải, chính Chúa Kitô cũng hiện diện và hoàn tất mầu nhiệm tha thứ ấy. Trong Tông Huấn Hòa Giải và Sám Hối, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhìn nhận, khi Linh mục thi hành chức năng Hòa Giải: “Đây là tác vụ khó khăn nhất, tế nhị nhất, tổnsức nhất và đòi hỏi cấp thiết nhất của Linh mục, nhưng cũng là một tác vụ cao đẹp và an ủi nhất”;[45] và ngài cũng khuyên những vị có trách nhiệm hãy thi hành tác vụ này cách trung thành và cần mẫn.
 
Linh mục giải tội được mời gọi đóng vai trò cao quí là phục vụ Hòa Giải và Sám Hối. Ngài có nhiệm vụ học biết những yếu đuối và sa ngã của các tín hữu, nâng đỡ lòng ao ước và ý muốn đổi mới cũng như nỗ lực thực hiện những thiện ý ấy. Ngài còn phải biết phân định tác động của Thánh Thần trong tâm hồn hối nhân, sẵn lòng ban ơn tha thứ với ý thức mà chỉ một mình Thiên Chúa ban cho, đồng thời hãy lấy tình cha mà khuyên nhủ và khích lệ hối nhân, sẵn lòng tha thứ và giao hòa họ với Chúa.
 
Ngoài ra, giả thiết các Linh mục đã được huấn luyện có đủ những đức tính nhân bản khôn ngoan, kín đáo, tử tế, nhất là sự cương nghị hòa trộn với sự nhã nhặn; được chuẩn bị kiến thức như: thần học vững chắc, khoa sư phạm, tâm lý, biết đối thoại, hiểu biết Lời Chúa cách sống động, đồng thời còn có khả năng chuyển thông Lời Chúa cách hiệu quả thích hợp. Nhưng trên hết, các Linh mục phải là những người trải qua những kinh nghiệm thiêng liêng sâu lắng, nhờ việc cầu nguyện, thực hành những nhân đức đối thần và luân lý. Vì là người hướng dẫn tín hữu trên hành trình trọn lành, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính việc năng lãnh nhận Bí tích Hòa Giải với thái độ sốt sắng.
 
Ngày nay, việc lãnh nhận Bí tích Hòa Giải tại Tây phương suy giảm, thưa thớt người đón nhận. Riêng tại Việt Nam, số người tham dự Bí tích Hòa Giải vẫn đông đảo, nhất là những dịp lễ trọng, đặc biệt tại những miền quê, người tín hữu vẫn sốt sắng lãnh nhận Bí tích này. Cả hai trường hợp đều nói lên haithái cực khác nhau, và nơi bản thân Linh mục rất dễ nhận ra những điều khác biệt đó: nơi thì nhàm chán do không có người đến với Bí tích Giao Hòa;nơi thì quá tải với số người xung tội quá đông, Linh mục ngồi tòa lâu trở nên mệt mỏi rã rời. Ngoài ra, một yếu tố khác là do bởi việc ngồi tòa giải tội âm thầm dẫn đến cảm giác nhàm chán đơn điệu;cũng như việc nghe đi nghe lại những tội quen thuộc, không thấy có những dấu hiệu tiến bộ, như những yếu tố đan dệt chi phối lẫn nhau, khiến cho việc chuẩn bị nội tâm và chăm sóc thiêng liêng cũng trở thành lỏng lẻo. Họ cố gắng làm đúng nghi thức qui định đã là may, nhưng lâu dần thành máy móc sơ cứng, mất sức sống và ơn ích thiêng liêng.
 
Bên cạnh đó, khi cử hành Bí tích Hòa Giải, vị Linh mục giải tội phải ra sức hoàn thành tốt bốn vai trò thiêng liêng này: vị thẩm phán từ tâm; lương y giàu kinh nghiệm chữa trị; thầy dạy khôn ngoan và sau cùng là một tấm lòng rộng lượng của một người cha, qua đó giúp người lãnh nhận Bí tích cảm thụ được tình nhân ái, hay lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương. Ngoài ra, lời nguyện xá giải tội trong nghi thức cũng thực sự trở thành lời chan chứa tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa, được cất lên từ môi miệng của Linh mục giải tội cách dõng dạc, chậm rãi với những chỗ cần thiết cũng góp phần giúp hối nhân thêm lòng sốt sắng để lãnh nhận, ý thức sâu sắc sự tha thứ, giao hòa với Thiên Chúa và Giáo Hội.
 
Ngày nay, dù có những ý kiến trái ngược hoặc căn cứ vào yếu tố lịch sử của việc xưng tội công khai lúc sơ khai, hoặc lý do thực tế quá đông người xưng tội mà không giải quyết được, như một nhu cầu chính đáng biện hộ cho việc xá giải tập thể; thế nên,Bộ Giáo Luật 1983 xác định: “Việc thú tội cá nhân và toàn vẹn cùng với việc xá giải tội nên một phương cách duy nhất và thông thường, nhờ đó người tín hữu ý thức mình có tội nặng được Hòa Giải với Thiên Chúa và Giáo Hội. Chỉ sự bất khả kham về thể lý hay luân lý mới chuẩn khỏithú tội như vậy; trường hợp ấy người ta có thể lãnh ơn Hòa Giải bằng cách khác”.[46] Trong Tông thư dưới hình thức tự sắc “Misericordia Dei” (Lòng Thương Xót Chúa), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 7/04/2002, đã tái xác nhận tư tưởng trên.
 
Tuy nhiên, Bộ Giáo Luật 1983 cũng dự liệu trong trường hợp khẩn thiết trầm trọng hay vì bởi những lý do mà vị thường quyền cho phép thực hiện việc xá giải tập thể, thì sau đó bó buộc đương sự vẫn phải xưng lại những tội nặng mình đã phạm mà chưa xưng thú cách cá nhân.[47] Trước đây, người ta chú ý quá nhiều vào vai trò Linh mục như là yếu tố chính trong việc giải tội, ví dụ như: lòng đạo đức, tình trạng hiện tại của người ban Bí tích,… nhưng Công Đồng Vatican II lại nhấn mạnh đến vai trò người tín hữu và tính cộng đồng của việc lãnh nhận Bí tích Hòa Giải.
 
B. Hối nhân
 
Bí tích Hòa Giải là con đường bình thường, đơn giản nhất để người tín hữu được tha thứ các tội trọng vấp phạm từ sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Người tín hữu cần ra sức khám phá dấu hiệu lòng tin, sự khiêm nhường và lòng quý trọng đối với Bí tích Giải Tội; đồng thời, coi Bí tích ấy như một phương thế hữu hiệu, nhờ đó sức mạnh Cứu Chuộc của Thiên Chúa được chuyển thông và tác động nơi mình. Vì thế, việc lãnh nhận Bí tích Hòa Giải phải được thực hiện cách thấm nhuần niềm tin, không phải âu lo, nhưng đầy tin tưởng và hy vọng, vì tin rằng qua đó chúng ta được tiếp xúc và ân hưởng “Lòng Thương Xót Khoan Nhân” của Thiên Chúa.
 
Trước đây, người muốn lãnh nhận Bí tích Hòa Giải phải thực hiện những việc sau đây:
 
- 1/. Xét mình
 
- 2/. Ăn năn tộihay dốc lòng chừa
 
- 3/. Xưng tội
 
- 4/. Đền tội
 
Theo Giáo Lý Hội Thánh: “Tội nhân phải tự nguyện hành động đầy đủ những việc sau: Thật lòng ăn năn, xưng tội, khiếm tốn và thành tâm đền tội”.[48] Tuy không đề cập đến xét mình, nhưng thiết tưởng không thể trải qua những giai đoạn sau, nếu người ta không hồi tâm xét mình và mong được Hòa Giải trước. Dù vậy, Giáo Hội cho thấy hai yếu tố cơ bản: “ăn năn tội cách trọn” và “thực hiện việc đền tội”, vừa thể hiện thiện chí của hối nhân, vừa là điều kiện để ơn tha thứ được hữu hiệu như một việc thiện để bù lại những tội lỗi do mình gây nên.
 
Đi vào đời sống đạo thực tế cho ta thấy có những lỗ hổng, tuy nhỏ bé, nhưng lại có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài:
 
- Trước hết, trình độ giáo lý của tín hữu xưa nay chỉ được xem như “đối phó” đủ tiêu chuẩn để lãnh các Bí tích cho qua rồi thôi. Ngay các em nhỏ cũng vẫn còn kiểu học giáo lý nhằm lẵnh nhận Bí tích. Thông thường, khi lãnh nhận Bí tích Thêm Sức xong, các em không còn muốn tiếp tục học Giáo lý nữa.
 
- Kế đến, lãnh các Bí tích theo thói quen, không nhận thức đầy đủ về luân lý Kitô giáo, mất sự nhạy cảm về tội, nhìn việc xưng tội như một công việc không tương hợp giữa người với người, xấu hổ ngại ngùng vì mình thú tội cho một người phàm như mình. Điểm tác động khác nữa, là con người ngày nay chạy theo nhịp sống vội vàng, ồn ào của tiếng động, khiến người ta sợ hãi cõi thinh lặng, dù thinh lặng được xem như môi trường tốt để con người hồi tâm và sửa đổi. Vì thế, việc xét mình để nhìn lại chính bản thân dường như đã bị đánh mất ý nghĩa nội dung chứa đựng trong những từ ấy. Con người ngày nay có thể ồn ào và khuấy động suốt ngày không nghỉ ngơi. Nhưng họ vẫn không thể, hay rất ít có thời gian dành cho sự tĩnh lặng nội tâm thật sự. Đó là sự thật đáng để cho các Mục tử cần quan tâm và tìm cách hướng dẫn đàn chiênthuộc về mình, hầu giúp những tín hữu khi lãnh nhận các Bí tích nói chung, đặc biệt với Bí tích Hòa Giải. Họ cần được chuẩn bị một cách thích đáng, không phải chỉ để cho việc lãnh nhận Bí tích được thành sự, mà còn giúp họ tìm thấy động lực khởi đi từ chính cõi lòng của họ, thật sự khao khát ơn sủng thánh hóa của “Lòng Chúa Thương Xót”.
 
- Sau cùng, nhờ sự tác động nội tâm, họ sẽ thực hiện việc đền tội cách xứng hợp, với ý thức bù lại những thiếu sót mình đã gây nên.
 
C. Nhận định
 
Khi giúp xét mình cho người lãnh nhận các Bí tích, việc chuẩn bị nội tâm phải được dành ưu tiên, vượt trên những cách thức tổ chức mang tính hình thức bên ngoài, thậm chí cả việc chỉ chăm chú sao cho đúng luật chi li, mà không chú ý giúp hối nhân những ý hướng và phân định nội tâm phù hợp với Bí tích lãnh nhận. Hơn nữa, cần khích lệ họ nỗ lực cộng tác với ơn Chúa để sống những giá trị Tin Mừng Cứu Độ. Trong Bí tích Hòa Giải, ngoài việc người tín hữu xét mình và thành tâm hối hận những sai lỗi đã vấp phạm, như điều kiện đủ để lãnh ơn xá giải qua Linh mục giải tội, thiết nghĩ những lời khuyên của thừa tác viên cũng góp phần quan trọng cho hướng đi tương lai của hối nhân; nhưng cũng phải tin tưởng vào yếu tố tác động của ơn thánh có sức làm chuyển hướng, thay đổi từ nếp sống tiêu cực sang tích cực, từ bỏ tội lỗi để bước vào nếp sống tốt lành, để giục lòng tin tưởng Cậy trông và mến Chúa.
 
Thiên Chúa muốn cứu độ hết mọi người trong sự liên đới với nhau; Giáo Hội được thiết lập cũng nhằm mục đích đó. Giáo Hội là cộng đoàn những người cùng theo đuổi mục đích chung, nhắm đến sự hoàn thiện; nhưng kỳ thực, Giáo Hội vẫn mang trong mình những phần tử tội lỗi, và điều này biểu lộ qua mầu nhiệm các thánh thông công. Bởi đó, vào những dịp đặc biệt trong năm, vì lợi ích thiêng liêng cho tínhữu, việc lãnh nhận Bí tích Hòa Giải luôn mang đặc tính cộng đoàn. Với hình thức này bộc lộ rõ tính hiệp thông chia sẻ cả ơn phúc lẫn vấp phạm yếu hèn của con người. Qua đó, cộng đoàn cùng lắng nghe Lời Chúa, cùng cầu nguyện chung với bầu khí trang nghiêm đạo đức, như những chuẩn bị tốt để cử hành Bí tích Giao Hòa nhằm nói lên đặc tính Hội Thánh. Nhờ lời cầu nguyện và gương lành của người khác, giúp cho hối nhân đi vào chiều sâu nội tâm; lòng sám hối khởi đi từ đó sẽ giúp người xưng tội cảm nhận được sự tha thứ, đồng thời đón nhận được ơn giao hòa của người Cha nhân lành trong Tin Mừng, chẳng những người Cha sẵn lòng tha thứ hết tội lỗi cho đứa con hoang đàng, mà còn phục hồi lại quyền làm con ngay tức khắc. Khung cảnh và hình thức này đã tác động mạnh đến nội tâm người lãnh Bí tích Giao Hòa, để họ thực sự được tiếp xúc và nhận ra lòng thương xót vô biên và sự quảng đại tha thứ của Đấng là Thiên Chúa Tình Yêu; đồng thời, như một cơ hội được chữa lành vết tích tội lỗi, được làm hòa với Giáo Hội hữu hình của Đức Kitô.
 
Bí tích Hòa Giải là phương tiện tốt giúp ta nhận ra con người thực của mình, và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa luôn trổi vượt trên tội lỗi chúng ta. Là con, người ta nhận ra nơi mình đầy yếu đuối mỏng dòn dễ vỡ, nhưng cũng chất chứa khát vọng sâu thẳm, hướng thiện, một khả năng mạnh mẽ muốn vươn lên, vượt thoát khỏi những bất toàn kéo dìm mình xuống. Sự giằng co này vẫn có nơi mỗi người, không phải để chúng ta thất vọng buông xuôi, nhưng dám chấp nhận sự thật ấy nơi bản thân mình, để bắt đầu và bắt đầu lại. Với ơn huệ của Thiên Chúa, giúp chúng ta xác tín vào tình thương của Người, một tình thương không biết đến quá khứ mà chỉ là hiện tại và một tương lai rộng mở với cả sự tín nhiệm, tin tưởng cũng như đầy tràn hy vọng nơi con người thụ tạo của Người.
 
KẾT LUẬN
 
Nhìn vào thế giới hôm nay, chúng ta phải công nhận có một sự sa sút đáng kể ý thức về tội lỗi. Một tình trạng dửng dưng đối với đạo nghĩa, hay phủ nhận tất cả những gì được lý trí chân chính và Mạc Khải cho chúng ta biết về Thiên Chúa. Vì thế dẫn đến hiện trạng có nhiều người nam cũng như nữ thiếu hụt cảm quan về Giao Ước của Thiên Chúa, cũng như về các giới luật của Người. Tất cả cảm quan của con người về trách nhiệm thường bị lu mờ, bởi con người đòi phải được quyền tự do tuyệt đối, một quyền tự do vượt trên lối suy nghĩ mà họ cho rằng mình bị Thiên Chúa là nhà lập pháp tối cao đe dọa và chi phối.
 
Bí tích Hòa Giải cũng gặp những bước thăng trầm trong lịch sử: từ thú tội công khai một lần trong đời, sang xưng tội cá nhân và lãnh nhận Bí tích khi cần. Giáo Hội trong trách nhiệm gìn giữ và phân phát kho tàng ân sủng, đã dần dần định hình cho nghi thức, thần học và những hướng dẫn mục vụ, nhằm giúp người tín hữu khi lãnh nhận Bí tích Hòa Giải được ơn tha thứ và bình an của Chúa, giúp họ sống trong tình trạng ân sủng lâu dài.
 
Quả vậy, việc xưng tội dù có những hình thức thay đổi cho phù hợp, nhưng cũng là yếu tố tùy thuộc, tương tự như kiểu “khi thay đổi kích thước, màu sắc quốc kỳ là làm sống lại lòng ái quốc”. Nơi Bí tích Giao Hòa cũng vậy, khi xưng tội là đích thân mỗi người phải thực hiện trách nhiệm của chính mình chứ không ai khác thay mình, đó mới là yếu tố nền tảng. Để nhận ra những sai trái, yếu đuối tội lỗi của mình khi đối chiếu với chân lý vĩnh cửu là chuẩn mực, không mặc cảm, không thất vọng hay một sự an tâm giả tạo. Trái lại,chúng ta tin rằng, mình đang cùng với Đức Kitô chiến đấu trong cuộc tranh chấp giữa ánh sáng và bóng tối mà Người đã khởi sự và đã toàn thắng; cũng chính Người là Đấng bảo vệ, nâng đỡ và thương xót chúng ta như vị Mục tử vác chiên lên vai: con nào bị mất Ta sẽ đi tìm, con nào đi lạc Ta sẽ đưa về, Ta sẽ băng bó chiên bị thương, Ta chữa lành chiên bị yếu đau; và hơn hết Người là phần thưởng bảo đảm vĩnh cửu sau cuộc chiến đấu với tội lỗi; nhờ lượng từ nhân của Chúa nâng đỡ, chúng ta sẽ luôn luôn thoát khỏi mọi tội lỗi.
 
Vào buổi chiều Phục Sinh, Đức Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, đã trao ban Thánh Thần cho Giáo Hội qua các tông đồ cùng với sứ mạng giao hòa, kèm theo quyền trói buộc và tháo cởi, như những phương thế hữu hiệu để Giáo Hội nối tiếp công trình Cứu Độ của Đức Giêsu trong trần gian. Trung thành với sứ mạng đã lãnh nhận, thẩm quyền Giáo Hội cũng nỗ lực bảo vệ kỷ luật, tránh những lạm dụng hoặc những tháo thứ, giúp tín hữu đối diện thực sự với chính bản thân mình trước Thiên Chúa, hầu lãnh nhận Bí tích cách hiệu quả cũng như mang lại nhiều ơn ích cho người lãnh nhận, giúp người tín hữu sống và cảm nhận mãnh liệt ơn huệ tình thương của Thiên Chúa dành cho mình; rồi công bố chân lý lòng thương xót của Thiên Chúa, tuyên xưng chân lý ấy bằng nhiều cách khác nhau, đồng thời cố gắng thực thi lòng thương xót đối với Con Người và nhờ Con Người, như những nỗ lực làm sáng rõ dung mạo và lòng thương xót của Thiên Chúa trong thực tại phàm trần.
 
Thực hành Bí tích Hòa Giải còn là việc làm của đức tin, con người nhận ra nỗi khao khát nội tâm, hối hận và xưng thú những xúc phạm do mình gây ra, muốn trả lại sự công bằng đã bị tổn thương như một cơ hội để được tha thứ, đón nhận và yêu thương. Kỳ thực, ân huệ của lòng “Chúa Thương Xót” dành cho chúng ta còn lớn lao và cao cả hơn những gì chúng ta nghĩ mà ra sức cố gắng thực hiện; điều này là một kinh nghiệm và cảm nghiệm nội tâm sâu thẳm lòng mình, chỉ riêng chúng ta đối diện với Người trong chân thành và thẳng thắn.
 

 
Phêrô Nguyễn Văn Tú,

Tu hội Thừa Sai Bác Ái – Vinh

Nguồn: http://catechesis.net

  

Ch
ú Thích

[1]Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư dưới dạng Tự sắc Lòng Thương Xót Chúa về những khía cạnh của việc cử hành Bí Tích Hòa Giải, 2002, phần dẫn nhập.
 
[2]St 1, 27
 
[3]Lv 19,2
 
[4]Xh 3, 5
 
[5]Xh 19,3-20
 
[6] 2V 6,6-8
 
[7] St 4,26
 
[8] St 17,1
 
[9] St 14,20
 
[10] Ga 10,17-18
 
[11] Xh 34,6; Hs 11,8; Gr 31,3.
 
[12] Lc 15,20.22-25.
 
[13] Gr 31,3-20; Mk 7,18-20; Is 49,15.
 
[14] Hs 14,5; 11,9.
 
[15] Tv 103,1-4.13.
 
[16] Tv 136; 130,7; 51,3.
 
[17]Ga 14,10; 16,27-28.
 
[18] Mt 5,45; Lc 6,35-36.
 
[19]Ga 3,16-17.
 
[20]Hr 1,1-2.
 
[21]Hr 9,26; Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin – Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Hà Nội: Tôn Giáo, 2012), số 571.
 
[22]Ga 18,4-6; Mt 26,53; Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin – Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Hà Nội: Tôn Giáo, 2012), số 609.
 
[23]Mc 9,31; 10,34.
 
[24]Mc 14,22-24.
 
[25]Lc 22,20; 1Cr 11,25.
 
[26] 1Cr 6,20; 7,23.
 
[27]Cv 10,39-43.
 
[28]Rm 4,25.
 
[29]Mt 28,19-20.
 
[30]Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo,Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin – Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Hà Nội: Tôn Giáo, 2012), số 781.
 
[31] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Reconciliatio Et Paenitentia (Hòa Giải Và Sám Hối), Ngày 02-12-1984, Số 4.
[32]Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo,Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin – Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Hà Nội: Tôn Giáo, 2012), số 1128.
 
[33]Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Reconciliatio Et Paenitentia (Hòa Giải Và Sám Hối), Ngày 02-12-1984, Số 4.
 
[34]Ibid., số 31.
 
[35] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), số 11.
 
[36]Mt 18,18-20.
 
[37] Mt 18,22.
 
[38]Ga 20,23.
 
[39] Lm. Giuse Phan Tấn Thành, Bí Tích Hòa Giải, Trung Tâm Học vấn Đaminh, 1998, tr.167.
 
[40]Ga 15,13-14; 1Pr 4,8.
 
[41]x. 1Cr 13,7-8.
 
[42]x. Is 1,18; Cl 1,20.
 
[43]Giáo Luật 1983, điều 965.
 
[44]Giáo Luật 1983, điều 965, triệt 1 và 2.
 
[45]Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Reconciliatio Et Paenitentia (Hòa Giải Và Sám Hối), Ngày 02-12-1984, số 29.
 
[46]Giáo Luật 1983, điều 960.
 
[47]Giáo Luật 1983, điều 962, triệt 1.
 
[48]Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo,Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin – Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Hà Nội: Tôn Giáo, 2012), số 1450.