Clock-Time

Cha giải tội của nghìn năm thứ ba

Bí tích Hòa giải là phương thế hữu hiệu để giúp người tín hữu tìm lại sự thánh thiện và niềm vui của Tin Mừng, và là nơi giáo dục lương tâm Kitô giáo cách hữu hiệu
SUY TƯ THẦN HỌC

CHA GIẢI TỘI CỦA NGHÌN NĂM THỨ BA

 
            Khởi sự thiên niên kỷ thứ ba, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ các mục tử như sau: “Ta cũng kêu gọi các mục tử lấy lại sự can đảm của người mục tử để bảo đảm rằng trong giáo huấn hằng ngày của các cộng đoàn Giáo Hội, người ta luôn giới thiệu việc thực hành bí tích Hoà Giải một cách rất thuyết phục và hiệu quả”[1], Và ngài khuyến cáo:  “Tất cả những ai có bổn phận do thừa tác vụ của mình phải chăm sóc các linh hồn, buộc phải bảo đảm nghe xưng tội khi người tín hữu được trao phó cho mình xin cách hợp lý, và họ phải có cơ hội xưng tội cá nhân, vào những ngày và những thời gian được niêm yết thuận tiện cho họ. Hơn nữa, tất cả các linh mục có năng quyền ban Bí tích Sám Hối phải luôn luôn tỏ ra sẵn sàng hết mình ban bí tích đó mỗi khi người tín hữu thỉnh cầu hợp lý.  Việc không muốn đón tiếp những con chiên bị thương tích, và có khi phải đi tới gặp chúng để đưa chúng về trong chuồng, có thể là một dấu chỉ đáng buồn vì thiếu sự nhạy cảm mục vụ nơi những người mà, do Bí Tích Truyền Chức Linh Mục, phải phản chiếu hình ảnh Đấng Chăn Chiên Lành”[2].

            Rõ ràng, khi mà ngày người ta càng rơi vào tình trạng hỗn loạn về luân lý để rồi không còn phân biệt đâu là tội và đâu là không tội, thì Giáo Hội càng ra sức nhắc nhở con cái mình ý thức về sự thánh thiện mà căn tính người Kitô hữu đòi hỏi phải có, và các mục tử có trách nhiệm hướng dẫn đoàn chiên có được một lương tâm ngay lành, một sự phân định minh bạch giữa những hành vi liên quan đến luân lý và các Giáo huấn của Giáo Hội để biết đâu là việc được phép làm và đâu là việc cần phải xa tránh.

            Bí tích Hòa giải là phương thế hữu hiệu để giúp người tín hữu tìm lại sự thánh thiện và niềm vui của Tin Mừng, và là nơi giáo dục lương tâm Kitô giáo cách hữu hiệu, do đó, bước vào thiên niên kỷ thứ ba, các chủ chăn được yêu cầu phải giúp hối nhân đến với Bí tích Hòa giải với niềm hy vọng, hân hoan và tín thác vì gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa, chứ không lo lắng và sợ hãi vì nghĩ rằng phải đối diện với vị thẩm phán nghiêm khắc.

            Để hiểu vai trò cha Giải tội của nghin năm thứ ba, trước tiên chúng ta tìm hiểu Giáo huấn của Giáo Hội về Bí tích Hòa giải
 
I- Một cái nhìn thoáng qua về Giáo huấn của Giáo Hội liên quan đến Bí tích Hòa giải và vai trò của cha giải tội
 
1-  Giáo huấn của Công Đồng Tridentinô về Bí tích Thống hối

Giáo huấn Công Giáo về Bí tích Thống hối luôn liên kết chặt chẽ với nhận thức việc công chính hóa. Trong sắc lệnh về ơn công chính hóa ở chương 14 và 15 cũng như trong các khoản (canones) 27 - 30 đã trình bày sự cần thiết của Bí tích Thống hối để tìm thấy lại ân sũng công chính hóa đã bị mất đi do tội trọng và vì thế cũng đánh mất sự sống đời đời.

 “Những ai sau khi được ơn công chính hóa, vì phạm tội mà bị tước mất, có thể được công chính hóa lại lần nữa, khi do Thiên Chúa thúc dục, họ lo sao được lại ân sủng đã đánh mất bằng Bí tích thống hối nhờ công đức của Chúa Kitô. Phương thức công chính hóa nầy là việc phục hồi kẻ đã sa ngã… Đẽ giúp đỡ những kẻ sa ngã phạm tội sau khi đã lãnh Bí tích Rửa tội, Đức Kitô Giêsu đã thiết lập Bí tích Thống hối khi Người nói:Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ (Ga 20,22)” .

Thật vậy, để tội nhân có khả năng làm một cuộc canh tân trở về, Chúa Giêsu Kitô đã ủy thác cho Giáo hội nhiệm vụ phục vụ ơn cứu độ qua việc hình thành Bí tích Thống hối như là dấu chỉ cứu chuộc (x. Ga 20, 22). Bí tích Thống hối bao gồm các yếu tố cụ thể như sau: Thống hối tự tâm hồn, thú nhận tội lỗi và lời xóa giải của linh mục, và việc đền tội qua những việc thực hành thiêng liêng cũng như hành vi bác ái đối với tha nhân. Việc đền tội nhằm đến hồi phục vết thương tâm hồn, đã làm tổn thương đến đời sống ân sũng của con người do tội gây ra. Hành động nầy tha các hình phạt tạm. Dĩ nhiên hình phạt không phải là do ý muốn chuyên quyền của Thiên Chúa, nhưng phát xuất từ bản tính của tội, vì tội gây ra những hậu quả tiêu cực trong cuộc sống nội tâm cũng như cá nhân của tội nhân. Vì vậy : “các hình phạt đền bù giúp tránh xa tội lỗi một cách hữu hiệu, như thể dây cương kìm hãm hối nhân khiến họ thận trọng và cảnh giác hơn trong tương lai; chúng cũng chữa lành các vết thương tội lỗi để lại, xóa bỏ thói hư nết xấu phát sinh từ nếp sống suy đồi bằng những hành vi đạo đức bù lại” (Giáo lý về Bí tích Thống hối, phiên họp thứ 14 dưới thời Đức Jules III, ngày 25.11.1551, chương tám). Ngoài ra Công đồng còn nhấn mạnh đến ân sủng công chính hóa không những bị mất do không tin, nhưng còn do tội trọng. Tội trọng luôn là hành vi chống lại tình yêu. Chỉ là một người có đức tin chân thật, khi người đó thể hiện một tình yêu sống động và hiệu quả (x. Gal 5,6).

Sắc lệnh về Bí tích Thống hối vào phiên họp thứ 14 năm 1551 đã đưa ra một định nghĩa dựa vào truyền thống kinh viện. Sắc lệnh nói đến việc cần thiết của Bí tích Thống hối cũng như sự thiết lập Bí tích nầy là do Chúa Giêsu sau khi Phục sinh. Chính lòng thương xót của Thiên Chúa trao ban cho Giáo hội một nhiệm vụ phục vụ ơn cúu độ và một phương thế của ân sủng cách đặc biệt với lời ủy thác của Chúa Giêsu, đó chính là Bí tích Thống hối, nhờ Bí tích nầy kẻ sa ngã trong tội sau khi nhận lãnh Phép Rửa nhận lại được sự sống nhờ công nghiệp của Đức Kitô . Chống lại lạc thuyết Novatian, Công đồng xác tín lại năng quyền của Giáo hội về việc tha tội.

Công đồng trình bày yếu tố thuộc bản thể của Bí tích Thống hối. Mô thể của Bí tích là lời xá giải (absolution). Chất thể là động tác của hối nhân: ăn năn, xưng tội và đền tội. Hành vi nầy làm nên dấu chỉ Bí tích. Nội dung và hoa quả của Bí tích Thống hối chính là sự giao hòa với Thiên Chúangoài ra còn mang lại niềm vui và sự bình an trong lương tâm, sự thanh thản cùng với niềm an ủi lớn lao trong tâm hồn. Công đồng lên án chủ trương cho rằng: nỗi kinh hãi xâm chiếm lương tâm và đức tin là thành phần của sám hối.

Sắc lệnh nói đến các yếu tố chính yếu thuộc về việc cử hành bí tích Hòa Giải:

- Việc ăn năn sám hối, và đây là hành vi quan trọng chiếm vị trí hàng đầu trong qúa trình thống hối trở về. Sám hối đích thị là: “tâm hồn đau buồn, ghét bỏ tội đã phạm và quyết tâm không phạm tội nữa”. Sám hối cần thiết để nhận được ơn tha thứ.

- Việc xưng tội. Một sự thú nhận trọn vẹn các tội đã phạm với linh mục, người thi hành quyền chìa khoá của Giáo hội, là cần thiết, đó như là yêu cầu do Chúa thiết lập (DH 1679). Vì nếu không có hành vi thú nhận từng tội của mình, thì vị thẩm phán không thể công bố việc kết án và ra hình phạt được. Sự cần thiết của việc thú tội qui chiếu về “các tội nặng mà mình ý thức sau khi xét mình chu đáo”. Những tội nhẹ có thể xưng thú hay cũng “có thể giữ im lặng mà không có lỗi”. Thiên luật không đưa ra một công thức thú nhận nào, nhưng phải xưng những tội thầm kín và tội công khai. Theo Công đồng việc xưng thú thầm kín đã được thực hành ngay từ buổi ban đầu của Giáo hội, và lịch sử không bao giờ xét lại việc xung thội thầm kín nầy. Công đồng đã trích dẫn qui định của Công đồng Latran IV. : đối với tội nặng, mọi tính hữu phải xưng tội một năm ít là một lần. Công đồng lến án ý kiến cho rằng: chính Công đồng đã ra luật buộc xưng tội, và hiểu việc luật xưng tội nầy chỉ là biện pháp mang tính kỷ luật của Giáo hội.

- Lời xá giải như là mô thể của Bí tích Thống hối. Chì có linh mục và Giám mục mới có năng quyển thi hành quyển chìa khóa của Giáo hội. Ngay cả linh mục trong tình trạng tội trọng, cũng có quyến tha tội, khi các ngài thi hành phận vụ như là thừa tác viên của Đức Kitô. Việc tha tội là nhờ quyên năng Chúa Thánh Thần mà các ngài nhận lãnh qua Bí tích truyền chức; sự phục phụ nầy không nhân danh sự thánh thiện cá nhân của linh mục ( chống lại lạc thuyết Donat: DH 1684). Lời xóa giải không dừng lại trong chiều kích loan báo Tin mừng hay chỉ là một công bố các tội được tha. Nhưng hơn thế, đó còn là một hành vi “mang tính thẩm phán, qua đó linh mục như là thẩm phán tuyến bố một án quyết”.

- Việc đền tội. Việc đền tội được hối nhân thi hành do phán quyết của linh mục giải tội. Việc đền tội được thực hiện với lòng kiên trì “đau khổ chân thật trong tâm hồn”, nhờ “chịu khổ cực đền tội, chúng ta được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, đấng đền bù vì tội lỗi chúng ta (x. Rm 5, 10; Ga 2, 1 -2). Đền tội phải là “hoa trái đích thực của lòng sám hối” (Lc 3, 8; Mt 3, 8). Do đó mà công nghiệp của Đức Kitô không trở nên vô ích, nhờ công nghiệp của Người tất cả chúng ta đạt tới việc hòa giải với Thiên Chúa. Chính khi chúng ta đón nhận những khổ đau do việc đền tội chân thật, là lúc tình yêu Chúa Kitô hoạt động trong chúng ta. “Chính nhờ Ngừơi má chúng ta có khả năng để làm việc thiện, và có được một bảo đảm rằng, khi chúng ta chia sẻ đau khổ với Người, chúng ta cũng được tôn vinh với Người (Rm 8, 17).
 
2- Thần học Bí tích Thống hối sau công đồng Vat. II
 
Canh tân phụng vụ là yêu cầu cấp bách của Công đồng. Một trong những yêu cầu của việc canh tân nầy chính là tái khám phá lại tính chất cộng động trong các cử hành Bí tích: “các họat động phụng vụ không phải là những họat động riêng tư, nhưng là những cử hành của Giáo hội, “Bí tích hiệp nhất”…Vì vậy, các họat động đó thuộc về tòan thân thể Giáo hội, diễn tả và ảnh hưởng trên Giáo hội…” (SC 26). Quả thật, trong qúa khứ sự hẹp hòi của khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa đã làm mất đi Giáo hội tính nơi Bí tích Thống hối. Công đồng Vt. II đã yêu cầu: “Nghi lễ và công thức Bí tích Giải tội phải được duyệt lại để diễn tả rõ ràng hơn bản tính và hiệu quả của Bí tích nầy”.Việc canh tân nầy phải nằm trong chiều kích Giáo hội tính: “Những ai đến nhận lãnh Bí tích Thống hối đều được Thiên Chúa tha thứ những xúc phạm đến Ngài. Đồng thời họ được giao hòa cùng Giáo hội mà tội lỗi họ đã làm tổn thương. Nhưng Giáo hội hằng nỗ lực lấy đức ái, gương lành và kinh nguyện để hóan cải họ” (LG 11).

Rõ ràng Công đồng nhấn mạnh đến đặc tính Giáo hội của Bí tích Thống hội. Bí tích Thống hối không còn là một hành vi riêng tư giữa Thiên Chúa và hối nhân, nhưng còn được nối kết với cộng đòan Giá hội. Sự tha thứ nhận lãnh được từ Thiên Chúa được kết nối với việc Giao hòa cùng Giáo hội. Vì phạm tội không chỉ là xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng còn gây tổn thương đến thân thể của Nhiệm thể Chúa Kitô, tức Giáo hội. Không chỉ là đơn giản việc hối nhân nhận lãnh được ân sủng từ nơi Thiên Chúa như là một hành vi cá nhân, nhưng việc trở về của hối nhân liên quan đến Giáo hội. Quả thật việc trở về của hối nhân chính nhờ “đức ái, gương lành và kinh nguyện của Giáo hội”. Do đó Công đồng kêu gọi các vị chủ chăn hướng dẫn dạy dỗ các tín hữu “hết lòng thống hối xưng thú tội lỗi mình với Giáo hội qua Bí tích Thống hối, để càng ngày càng quay về gần Chúa hơn khi nhớ lại lời Người: ‘hãy hối cải vì Nước Trời đã gần’ (Mt 4,17) (PO 5).

Nối tiếp suy tư của Công đồng, sách Giáo lý Công Giáo cũng đã trình bày chiều kích Giáo hội của Bí tích Thống hối dưới chiều kích hiệu quả của việc tha tội: “Trong đời sống công khai, chẳng những Chúa Giêsu tha tội, Người còn cho thấy hiệu quả việc tha tội: Người đã đưa những người được tha tội trở lại cộng đồng dân Chúa vì tội đã tách lìa hoặc khai trừ họ khỏi cộng đòan . Một dấu chỉ tỏ tường là Người cho kẻ tội lỗi đồng bàn với mình, hôn nữa, còn đến dùng bữa với họ: cử chỉ nầy nói lên việc họ được Thiên Chúa tha tội và được trở về trong lòng Dân Chúa” (GLCG số 1443).

Đặc tính Giáo hội trong Bí tích Thánh Thể được làm sáng tỏ trong văn kiện “ordo paenitentiae của thánh bộ về Phụng tự ban hành ngày 02.12.1973. Văn kiện nhấn mạnh: do “mầu nhiệm huyền diệu và nhân lành trong việc ban phát các ơn, lòai người được liên kết với nhau bằng một thứ tình siêu nhiên, nên tội lỗi của người nầy cũng làm tổn thương đến người nọ, cũng như sự thánh thiện của người nầy mang lại lợí ich cho người kia. Cũng thế, việc sám hối luôn giao hòa với anh em mà tội lỗi đã làm tổn thương. Ngoài ra, lòai ngừơi cũng htường hành động liên kết với nhau trong việc thực hiện những điều bất chính. Cũng thế, họ trợ giúp lẫn nhau trong việc thực thi sám hối, để một khi đã được giải thóat khỏi tội lỗi nhờ ân sủng Đức Kitô, họ sẽ cùng với tất cả mọi người thiện tâm thực hiện nền công chính và hòa bình trên thế giới” (Số 5).

Nhấn mạnh đến chiều kích Giáo hội văn kiện “Ordo paenitentiae” đã trình bày đến hình thức thống hối tập thể, qua đó các tín hữu cùng nhau nghe Lời Chúa, để khám phá ra lòng từ bi của Thiên Chúa mà đứng dậy trở về. Và sau khi nhận lãnh ơn tha tội mọi người cùng nhau cất tiếng ngợi ca Thiên Chúa vì những điều kỳ diệu mà Chúa đã thực hiện trong dân, một dân được mua bằng giá máu Con Thiên Chúa (số 22).

Ngay trong công thức xá giải của Bí tích Thống hối, bản văn cũng đã sửa đổi lại nhằm nhấn mạnh đến chiếu kích Giáo hội: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúavà ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho (con) ơn tha thức và bình an. Vậy (cha) tha tội cho (con), nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen”. “Công thức giải tội nói lên việc giao hòa phát xuất từ lòng thương xót của Thiên Chúa; cho thấy mối dây liên kết giữa việc giao hòa hối nhân với Mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô; làm nổi bật công việc của Chúa Thánh Thần trong việc tha thứ tội lỗi. Sau cùng, làm sáng tỏ khía cạnh Giáo hội của Bí tích, vì việc giao hòa với Thiên Chúa được kêu xin và trao ban qua thừa tác vụ của Giáo hội”[3]

Mặc dầu nhấn mạnh đến chiều kích Giáo hội, giáo huấn Giáo hội vẫn coi việc xưng tội cá nhân là chuẩn mực duy nhất của Bí tích Thống hối. Do đó Giáo luật đã qui định: “việc thú tội cá nhân và tòan vẹn cùng với việc xá giải cấu tạo nên phương cách duy nhất và thông thường, nhờ đó người tín hữu ý thức mình có tội nặng được hòa giải với Thiên Chúa và Giáo Hội. Chỉ sự bất khả kháng về thể lý hay luân lý mới chuẩn khỏi cách thú tội như vậy; trường hợp ấy, người ta có thể lãnh ơn hòa giải bằng những cách khác” (GL điều 960) Đức Gioan Phaolô II trong tông thư “Reconciliation et paenitentia” (1984) cũng nhắc lại Bí tich Thống hối được thể hiện cách chuẩn mực qua việc xưng tội cá nhân: “Nghi thức hòa giải cá nhân cho hối nhân là phương thức chuẩn mực duy nhất để cử hành Bí tích Sám hối; ta không thể và không được phép lọai trừ hay bỏ qua phương thức nầy” (số 32).

Khi xác định lại tầm quan trọng của việc xưng tội riêng Đức Giáo Hòang đưa ra ba xác tín trong số 31 của tông thư “Reconciliation et paenitentia”:

- Bí tích thống hối là con đường bình thường để nhận lãnh ơn tha thứ và được thứ tha các tội trọng đã phạm sau Phép Rửa. Bởi đó không được phép hiểu sai lạc về Bí tích thống hối qua những việc canh tân các nghi thức do Công đồng đề xướng.

- Bí tích có hình thức hành vi pháp lý. Nhưng hành vi nầy diễn ra trong một tòa án của lòng thương xót hơn là theo sự công bằng nghiêm khắc. Nơi đây hối nhân thú tội của mình và công nhân thân phận yếu hèn của một thọ tạo bị tội lỗi chi phối, và cam kết từ bỏ tội lỗi và chấp nhận hình phạt (sám hối mang tính Bí tích), do cha giải tội ấn định. Ngòai tính chất pháp lý, Bí tích Thống hối còn mang chức năng trị liệu hay y lý. Nghi thức Sám hối làm cho hối nhân nhận ra trong tội không chỉ làm cho mình lầm lạc, nhưng còn làm cho mình ra yếu đuối tật nguyền. Vì hai tính chất nầy, đòi buộc hối nhân phải thành thật xưng thú hết các tội, không vì mục đích khổ luyện (tập khiêm nhường, hãm mình) nhưng là vì bản tính của Bí tích.

- Thống hối ăn năn là dấu chỉ của Bí tích. Nhưng việc thống hối ăn năn là hành vi cương quyết của hối nhân dứt khóat với với tội lỗi đã phạm. Để có thể thống hối ăn năn, cần phải biết tội mình đã phạm, tức phải xét mình, kế đó là cần phải chấp nhận việc kết án hành vi phạm tội bởi thừa tác viên họp pháp của Giáo hội như là thẩm phán qua việc xưng thú. Cho nên việc xưng tội cá nhân thể hiện dấu chỉ Bí tích: dấu chỉ gặp gỡ của tội nhân với trung gian của Giáo hội qua thừa tác viên; dấu chỉ tự nhận mình là kẻ có tội trứơc mặt Thiên Chúa và Giáo hội. Bởi đó việc kết tội là một hành vi phụng vụ trang trọng, như đứa con hoang đàng trở về và được cha nó đón nhận bằng nụ hôn bình an. Đây là hành vi mang tính cá nhân riêng tư, do đó việc kết tội phải được thực hiện một cách cá nhân chứ không thể tập thể được, vì tội là một hành vi cá nhân.

Công đồng Tridentinô đã trình bày Bí tích Hòa giải dưới lăng kính của việc công chính hóa, tìm lại sự thánh thiện nơi bản thân của hối nhân. Công đồng nhấn mạnh đến hình phạt hậu quả của tội, và việc xưng tội là để thoát khỏi án phạt đời đời.  Công đồng đặt trọng tâm của việc hoán cải trên mối tương giao giữa hối nhân và Thiên Chúa, mang đậm đặc tính cá nhân và việc giao hòa với Thiên Chúa qua ơn thứ tha được lãnh nhận, và nhờ đó linh hồn không bị án phạt  là sợi chỉ đỏ của việc cử hành bí tích Giao Hòa. Cha giải tội được nhìn như một thẩm phán đóng vai trò xét xử hoặc tha hoặc không tha.

Công đồng Vaticanô II đã nỗ lực tái khám phá lại đặc tính cộng đồng hay là Giáo Hội tính nơi bí tích Giao Hòa. Khi phạm tội tội nhân không chỉ phá vỡ sự hiệp thông với Thiên Chúa, nhưng còn cả với Giáo Hội ma tội nhân là một thành phần, vì thế khi lãnh nhận tha thứ hối nhân thực hiện việc giáo hòa vừa với Thiên Chúa và với Giáo Hội. Với suy tư nầy cha giải tội như là dấu chỉ trung gian gặp gỡ với Chúa và với Giáo Hội . Qua trung gian này, hối nhận vừa được giao hòa với Chúa vừa giao hòa với Giáo Hội.

Thế nhưng, suy tư thần học về Bí tích Hòa giải vẫn được tiếp tục khai sáng, và các chủ chăn nhận ra rằng, trọng tâm của Bí tích Hòa giải chính là lòng thương xót của Thiên Chúa, Tòa giải tội không được nhìn như là nơi để xét xử, nhưng đó là chốn mà hối nhân tìm thấy được nguồn an ủi, khích lệ và sự bình an, nói như Đức Bênêđictô XVI:  "Cần quay lại với toà giải tội như một nơi không những để cử hành bí tích Hoà Giải, mà còn để "ở lại" thường xuyên hơn cho người tín hữu tìm được sự thông cảm, khuyên nhủ và an ủi, cho họ cảm thấy họ được Chúa yêu thương và thông cảm, và cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa Thương Xót, bên cạnh sự Hiện Diện thật của Chúa trong bí tích Thánh Thể"[4]. Vì là nơi mà ngừoi tín hữu tìm được sự cảm thông và đón nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa, nên cha giải tội không đơn hóa vai trò của mình là một vị thẩm phán hay trung gian, nhưng phải là một thừa tác viên của lòng thương xót, cha giải tội phải có “thái độ sẵn sàng nghe xưng tội, đón tiếp các hối nhân và đồng hành với họ cách thiêng liêng khi họ yêu cầu, đó chính là những tiêu chuẩn đo lường đức ái mục tử của người linh mục. Qua thái độ sẵn sàng ấy, các linh mục đã trở thành một lời chứng vui tươi và theo một nghĩa nào đó, các ngài đã đảm nhận được căn tính đích thực của mình, đã được xác định lại trong bí tích Truyền Chức, một căn tính không thể chỉ thu gọn lại như một chức năng không hơn không kém”[5].

(còn tiếp)

Lm. Antôn Hà Văn Minh
 

[1] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Thư Novo Millenio ineunte, ban hành ngày 6-1-2001, tại Roma.
[2] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư Misericordia Dei, ban hành ngày 7-04-2002, tại Rôma, số 1.
[3] Thánh Bộ Giáo sĩ, Huấn thị: Linh mục, thừa tác viên của lòng Chúa thương xót, ban hành ngày 9-3-2011, tại Roma, số 19.
 
[4] Đức Bênêđictô XVI, Diễn từ với các tham dự viên khóa học về Tòa Trong do Tòa Ân Giải Quốc Tế tổ chức ngày 11-3-2010 tại Roam.
[5] Hồng Y Mauro Piacenza, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo sĩ, Lời giới thiệu cho huấn thị: Linh mục, Thừa tác viên của lòng Chúa thương xót, của Bộ Giáo sĩ ban hành ngay9-3-2011, tại Roma.