Clock-Time

Phải chăng sự hiện hữu của Thiên Chúa cũng hiển nhiên như 2 với 2 là 4?

Phải chăng sự hiện hữu của Thiên Chúa cũng hiển nhiên như 2 với 2 là 4?
Phải chăng sự hiện hữu của Thiên Chúa cũng hiển nhiên như 2 với 2 là 4?
 

VẤN:

Tôi đã có được niềm xác tín rằng không thể có một chứng cứ thuần lý hoàn toàn chắc chắn về sự hiện hữu của Thiên Chúa vì nếu người ta cho thấy chân lý về sự hiện hữu của Người với cùng một mức độ hiển nhiên như 2 cộng với 2 là 4. Người sẽ làm cho đức tin của chúng ta không còn công nghiệp gì nữa, bởi như thế là bó buộc chúng ta phải ưng nhận một điều bất khả kháng.
 
ĐÁP:

Để có thể lãnh hội được rằng 2 với 2 là 4, chỉ cần một chút khả năng tính toán. Thật vậy, cả những kẻ suy nhược tinh thần, như một người mắc chắng tảo điên chẳng hạn, vốn không thể có được một quyết định nhân bản đúng nghĩa cũng có thể lãnh hội được điều đó.
 
CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ

Trái lại, vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa động viên toàn thể con người và bao trùm lên tất cả đời sống của nó. Nên, để lĩnh hội một chân lý vừa thâm sâu vừa mầu nhiệm như thế, cũng cần phải có sự đóng góp của những năng khiếu nhân văn nữa. Điều đó không có nghĩa là không có những lý lẽ minh bạch hỗ trợ cho sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà trái lại chỉ muốn nói rằng không có gì có thể tăng thêm sự xác tín cho một tâm trí được soi sáng.

Tuy nhiên, trình bày một chân lý toán học hay một khái niệm về khoa học tự nhiên là một chuyện, còn minh chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa lại là một chuyện khác. Các thuật ngữ “Chứng minh” và “Chứng cứ” trong trường hợp thứ hai mang một ý nghĩa đặc biệt, vì ở đây không còn phải là lãnh vực của các khoa học tự nhiên. Các nhà toán học, vật lý, thiên văn học, địa chất học hay toán học, dầu cố gắng hết sức, dầu sử dụng mọi phương pháp cùng với tất cả những kết qủa do khoa học ấy mang lại, cũng sẽ không bao giờ tìm thấy Thiên Chúa. Lý do rất đơn giản: Người không phải là một phần tử của thực tại, cũng chẳng nằm trong những định luật mà họ nghiên cứu học hỏi trực tiếp. Thực tế, các công thức toán học phát triển mà không cần có sự hiện hữu của Thiên Chúa. Và, trong thực tế, không cần có sự hiện diện của Người để lấp đầy một khoảng trống hay hàn gắn một vòng khuyên. Tuy vậy, nếu nhà toán học hay bất cứ một nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên nào, không phải chỉ là một kỹ thuật gia thuần túy, quanh quẩn trong lĩnh vực chuyên môn của mình, mà còn là một con người, biết thắc mắc về những nguyên nhân cuối cùng của thực tại cũng như biết ngạc nhiên trước mọi sự vật vĩ đại và nhiệm mầu mà họ gặp, thì chắc họ sẽ tự cảm thấy bị thúc đẩy phải thoát ra cái chu vi hạn hẹp của ngành khoa học chuyên môn của mình và tự nêu lên những vấn nạn tối hậu, có tầm mức quyết định mà ai ai cũng tự đặt lên cho chính mình: “Do đâu mà có những khả thể kỳ diệu mà khoa học vẫn không ngừng khám phá trong các thực tại của thế giới?” Khi nêu lên những câu hỏi ấy, nhà khoa học đã tự hóa thân thành một triết gia, thành một “bằng hữu của minh triết”. Tự bản chất, mọi người đều bị thôi thúc phải đặt lên những vấn nạn như thế: đó là điều không thể tránh một khi con người đã có được một kinh nghiệm nào đó về cuộc sống và một kiến thức nào đó về thế giới.

Xét cho cùng, khi ta truy vấn về sự hiện hữu của Thiên Chúa thì đó cũng chính là lúc chúng ta đang thắc mắc về con người. Có vấn nạn về nguồn gốc của thế giới vật chất là bởi có sự hiện diện của con người: kẻ có thể chiêm ngưỡng, sử dụng và ngay cả lạm dụng nó nữa. Nhưng, cả đến các ngành khoa học nghiên cứu về con người cách trực tiếp, như khoa tâm lý thực nghiệm hay các khoa xã hội học, cũng không đủ sức chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa dựa vào các phương pháp của chúng – vì chúng vẫn hạn hẹp trong lĩnh vực chuyên môn của riêng mình thôi – dù trong các ngành khoa học ấy vấn đề về nền tảng tối hậu cũng như về cùng đích sau cùng đang chi phối cá nhân và xã hội nhân loại được đặt lên một cách trực tiếp hơn nhiều. Trong trường hợp này cũng vậy, khi ai đó khởi sự truy vấn về Thiên Chúa, là người ấy đã vượt khỏi lãnh vực tâm lý thực nghiệm và xã hội học để thành một con người thuần túy với ý nghĩa chính xác và thâm sâu nhất của từ ngữ, tức bằng hữu của minh triết.
 
LÀ NGƯỜI

Vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa khuấy động đến yếu tố sâu xa và cao cả nhất nơi con người, như: tư tưởng trong tất cả tiến trình của nó, tình yêu cùng mọi khát vọng của chúng ta. Ai càng đích thật là người, càng yêu mến và biết tìm hiểu tha nhân, càng quí trọng phẩm giá con người của mình thì càng phát triển vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa cách mãnh liệt hơn; và từ đó càng dễ dàng khám phá ra Thiên Chúa xuyên qua công trình của Người, lĩnh hội được Người như là Uyên Nguyên của mọi hữu thể, nhất là như mẫu mực và như Đấng Sáng Tạo của con người.

Để trao dồi kiến thức về các ngành khoa học tự nhiên, chỉ cần phát triển một năng khiếu tri thức nhất định. Nhưng, để thấu suốt, để có một cái nhìn sáng suốt trong vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa, phải LÀ NGƯỜI trong ý nghĩa toàn vẹn của nó: phải biết quý trọng tha nhân; phải liêm chính và ngay thẳng đối với những giá trị luân lý.

Ngay giữa lòng vấn nạn về nguồn gốc và ý nghĩa về của con người cũng như mọi hữu thể khác, có một số chân lý rất rõ rệt mà ta có thể đạt được nhờ vào những luận cứ chính xác, chẳng hạn như ta chứng minh sự hiện hữu tất yếu của một nguyên nhân đệ nhất tuyệt đối của thực tại cụ thể hay khi tìm tòi hầu khám phá nền tảng cùng ý hướng tối hậu của kinh nghiệm về lương tâm. Tuy nhiên, vì một khi đụng chạm tới vấn đề này  là phải động viên con  người toàn diện, hơn nữa, những hậu quả đạt được từ các nỗ lực chứng minh ấy lại có liên hệ đến toàn thể con người, nên cần phải quan tâm đến toàn thể hữu thể nhân linh cũng như sự triển nở viên mãn của nó nếu muốn cho nó có thể đạt đến một tri thức về sự hữu của Thiên Chúa.
 
PHÁN ĐOÁN VỀ KHẢ TIN TÍNH

Chính lịch sử sẽ hỗ trợ cho những ai chú tâm đến con người và sứ mạng của Đức Kitô cũng như đến đức tin của Giáo Hội Công Giáo. Tuy nhiên, xét cho cùng, ngay cả trong trường hợp này, cũng cần có một cái nhìn thiêng liêng về toàn thể mầu nhiệm con người của Đức Kitô và giáo thuyết của Giáo Hội. Đối với vấn đề thiên tính của Đức Kitô, từ ngữ chứng minh quả là nghèo nàn và thiếu sót. Vấn đề được nêu ra như sau: “Đức Kitô có tự mạc khải một cách đủ rõ ràng mình là Con của Thiên Chúa Cha hằng hữu không?” Để trả lời, cần phải có sự cởi mở hoàn toàn trước chân lý và sự thiện mà ta bắt gặp một cách cụ thể nơi một con người: Đức Kitô. Để tin một cách hợp lý, trước tiên ta phải biết phán đoán về khả năng tin tính của đối tượng mà ta phải tin. Thật vậy, trong trường hợp cụ thể hiện tại, tức trước sự kiện Đức Kitô, ta phải xem xét có đáng để tin như thế không. Ta đừng bao giờ quên rằng hành vi đức tin đích thật và đúng nghĩa còn hàm chứa một yếu tố quý báo hơn nhiều: trong đó, trí tuệ, ý chí và con tim chúngta được Thánh Thần do Chúa Cha và Chúa Con gởi đến kích động khiến cho sự ưng thuận của ta thắm nhuần tính cách hợp lý và thích đáng ở mức độ cao nhất và như thế, mang lại cho ta một cảm giác an toàn cùng một niềm vui thỏa thần linh. Cuối cùng, đức tin vào Đức Kitô chính là một ân sủng, một quà tặng vô giá, được trao ban không phải cho một kẻ mù lòa, cũng không phải cho một người ngu muội, nhưng để làm cho người thụ lĩnh có được sự thông sáng tột mức trước những chân lý thiết yếu nhất.
 
TÌNH NHÂN LOẠI

Khi muốn thông truyền cho tha nhân kho tàng đức tin, không phải trình bày cho  họ những lý luận chính xác, với thái độ khách quan lạnh lùng của nhà toán học, hay tận dụng mọi mánh khóe tinh vi của khoa tâm lý học là đủ. Vì phải kêu mời họ hoàn tất hành vi nhân linh trong ý nghĩa tròn đầy nhất của nó, nên cần phải mang theo đến bên họ tâm tình kính trọng tối đa nhân tính của họ cùng làm cho  họ cảm nghiệm được sự cao cả và nồng ấm cuả tình nhân loại.

Đối với đức tin vào Đức Kitô, Đấng mạc khải trọn ven tình yêu của Thiên Chúa Cha;  và đối với niềm tin vào Giáo Hội công giáo là vị hôn thê yêu dấu của Người, chính Đức Kitô, trong lời nguyện tế hiến đã chỉ vẽ cho ta con đường phải theo: “Để hết thảy chúng nên một, cũng như lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong chúng ta, và thế gian tin là Cha đã sai Con”(Ga17,21).

Dù đức tin chính là một tri thức đích thực và hơn nữa, còn là thứ tri thức cao cả nhất, quí giá nhất mà con người có thể có được trên trần gian này, nó vẫn không bao giờ là kết quả của một tiến trình luận chứng thuần tuý. Trong lời nguyện xin cho các Tông đồ được hiệp nhất - sự hiệp nhất ấy  là phương tiện dẫn đưa thế gian đến chỗ tin vào sứ mạng của Người là Đức Kitô, theo như Thánh Gioan ghi lại, trước tiên đã nói: “Để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (17, 21), nhưng liền sau đó, Người thêm: “Ngõ hầu thế gian biết rằng Cha đã sai Con” (17,23). Vậy, không có mâu thuẫn nào giữa đức tin và tri thức, trái lại, chỉ có một sự hoà hợp tuyệt vời  vượt qúa khả năng của những nổ lực thuần tuý nhân loại, dầu thực ra vẫn không hề loại trừ chúng.
 
Nguyên tác: số mục (3) quyển I
                      B. Haerinh