Clock-Time

Tại sao Maria không báo cho vị hôn phu là Giuse biết mình đã thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần?

Tại sao Maria không báo cho vị hôn phu là Giuse biết mình đã thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần?

+ VẤN:

 Tại sao Maria không báo cho vị hôn phu là Giuse biết mình đã thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần?

+ ĐÁP: 

Đây quả là một vấn nạn hóc búa và dễ khiến ta bối rối lúc mới thoạt nghe.

Cho đến những năm gần đây chắc ta vẫn thường được nghe trả lời như sau: Các sách Tin Mừng không ghi lại cho chúng ta hết mọi biến cố đã xảy ra trong quãng thời gian từ lúc Truyền tin (vốn chỉ được có một mình thánh Luca ghi lại) cho đến lúc Giáng Sinh (được ghi lại bởi hai thánh Matthêu và Luca). Các ngài đã giản lược vào vài nét có ý nghĩa tôn giáo thôi. Nên ta không thể dừng lại một lịch sử với đầy đủ chi tiết như một giai thoại. Ta không có đủ dữ kiện để có thể biết Giuse đã làm cách nào rõ được sự việc, vào lúc nào, do ai, và tại sao Thiên Chúa, tại sao Mẹ Maria lại không cho người biết ngay từ đầu.

Hiện nay vấn đề đã sáng sủa hơn. Thật vậy, nỗ lực của khoa chú giải đã đưa ra một lối giải thích mới đối với đoạn này. Từ xưa đến nay, trải qua hằng bao thế kỷ, người ta vẫn luôn nô lệ vào một lối giải thích bình dân và cảm động là: Giuse đã tự mình khám phá việc Maria mang thai. Rồi ông nghi ngờ và muốn lìa bỏ người nữ mà ông coi như là đã phạm tội ngoại tình, vì luật Do -thái cho rằng trong trường hợp đó thì vị hôn thê thật đáng tội. Nhưng vì là một con người có lòng đạo đức nhân hậu, nên ông không muốn tự tay tố cáo Maria khiến nàng phải chịu gia hình ném đá như chuyện người phụ nữ ngoại tình trong sách Tin Mừng. Một vài nhà giảng thuyết lại còn thêm vào lối giải thích trên những tiểu tiết rất đẹp, rất cảm động. Ta chỉ cần nhớ đến cảnh thinh lặng tuyệt vời trong đoạn khai mào cuốn phim: “Tin Mừng theo thánh Matthêu” thì sẽ thấy. 

Nhưng, phải nhìn nhận rằng lối giải thích cổ điển này không được đúng với bản văn; và theo như nhận xét của cha Xavier Léon- Dufour, một thành viên trong Uỷ vụ Giáo Hoàng về Thánh Kinh, cũng như của nhiều nhà chú giải khác nữa, thì lối hiểu ấy còn không ăn khớp với những diễn tiến tiếp theo. Lối giải thích cổ điển này sa lầy ở hai điểm sau (ấy là chưa kể còn nhiều điểm bất ổn khác nữa):

1. Lối hiểu ấy giả thiết Giuse khám phá ra việc Maria thụ thai, nhưng không biết nguyên do. Thế mà, ngay từ đầu thuật trình, Matthêu đã trình bày sự việc cách khác hẳn. Theo ngài, điều Giuse biết được là việc Maria thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần (câu 18). Vậy, thánh Giuse đã được biết về mầu nhiệm  thụ thai đồng trinh chứ không phải chỉ biết về sự kiện thụ thai mà thôi.

2. Mệnh đề “Vì ngài là người công chính” sẽ trở nên vô nghĩa trong việc nhằm giải thích quyết định của Giuse, nếu đó là quyết định muốn giúp Maria trốn khỏi hình phạt của luật, vì là người công chính nên lẽ ra sự công chính sẽ đòi buộc ngài phải xử sự trái lại, tức giữ trọn lề luật cách chặt chẽ, khít khao.

Các lý do vừa nêu và còn nhiều lý lẽ khác nữa khiến ta phải hiểu thuật trình ấy theo cách sau đây: Giuse đã biết Maria “thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần”. Rồi , vì là “người công chính” nên ngài không muốn giữ làm vợ mình người thiếu nữ mà Thiên Chúa đã thánh hiến bởi một sự can thiệp nhiệm lạ để dùng vào một chương trình mầu nhiệm; và cũng chẳng muốn hưởng cái vinh dự vốn không thuộc về mình: Vinh dự làm cha của vị tiên tri, của Đấng Thiên Sai có nguồn gốc thần linh ấy. Trước sự bối rối đó, thiên thần đã trả lời: “ Đừng sợ nhận Maria làm vợ. Thật vậy, dẫu con trẻ trong lòng nàng được thụ thao bởi phép Chúa Thánh Thần… nhưng chính anh được gọi để đặt tên cho con trẻ”. 

Ta nên nhớ rằng, đây không phải là một cuộc sáng chế tùy hứng của những nhà giảng thuyết nhằm đưa ra những lối giảng thích có tính cách đạo đức, khuyến thiện, mà là lối hiểu của các nhà chú giải chuyên môn có tiếng, sau khi đã khảo sát tận tường ý nghĩa các chữ, các thói tục và giá trị đích xác của thể văn được dùng.

Dĩ nhiên, bài tường thuật ấy vẫn còn có vẻ mờ ảo và giản lược. Nó chỉ trình bày mầu nhiệm chứ không chịu dựng lên một giai thoại. Nó không thỏa mãn sự khao khát, tò mò của con người chúng ta. Tuy nhiên, theo lối giải thích trên thì giả thuyết hiển nhiên nhất là Giuse đã được chính Maria cho biết ngay từ đầu Mẹ đã “thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần”. Như thế, ngài là người đầu tiên được biết mầu nhiệm Truyền tin. Hệ luận vừa được suy diễn quả đã vượt quá lãnh vực của sự chú giải thuần túy, nhưng, hiện nay, nó được coi như chuyện đương nhiên. Vậy, như ta vừa thấy, khoa chú giải không có tính cách đập đổ, đả phá như đôi khi người ta vẫn lầm tưởng.

Đoạn văn này, vốn được viết theo quan điểm của Giuse, lại thừa hưởng truyền thống do gia đình Giuse để lại, nên đã làm nổi bật ý nghĩa phụ tính của ngài. Phụ tính ấy là đối tượng của Lời thiên thần phán cùng Giuse trong giấc mộng. Đó là một thứ phụ tính:

- Pháp lý, vì hai bảng gia phả của Đức Kitô đều là những bảng gia phả của Giuse, chứ không phải của Maria. Chính qua Giuse mà Đức Kitô được nối kết cách chính thức với hoàng tộc Đavít và với dân Do-thái.

- Dưỡng nghĩa, hàm chứa trọn vẹn trách vụ mang lại một nền giáo dục nhân loại cho con Thiên Chúa.

Làm Cha không có nghĩa là chỉ thông truyền sự sống sinh lý. Trong vở Fanny, một hài kịch rất nổi tiếng do Marcel Pognol thuộc Hàn lâm viện Pháp sáng tác, chủ đề này được diễn tả rất độc đáo. Có một ông nọ rước một một thiếu phụ bị chồng bỏ về làm vợ và nuôi nấng đứa con riêng nàng mới sinh ra. Đề tài chính của vở kịch là: Kẻ nuôi nấng bảo bọc đứa bé bất hạnh ấy mới chính là người cha thật của nó: “Lúc mới sinh ra nó chỉ cân nặng 4 kí lô … đó là 4 kí lô máu thịt của mẹ nó. Nhưng hôm nay nó nặng 9 kí lô; và bạn có biết 5 kí thặng dư ấy là gì không? Đó là 5 kí-lô tình yêu … Sự sống ư? Con chó, con mèo cũng có thể trao ban được … Còn người cha, đó chính là kẻ yêu thương, kẻ ban phát tình  yêu”. Những câu rất cảm động này của vở kịch thường khiến tôi liên tưởng đến phụ tính thiêng liêng của thánh Giuse. Ngài đã dưỡng nuôi Đức Kitô. Ngài đã cho Người những kí lô lương thực và những “kí lô tình yêu” cần thiết để Người có được thân xác trưởng thành vì một sự triển nở tâm lý trọn vẹn, nhờ đó, một ngày kia, Người có thể xuất hiện với nhân gian. Như mọi người cha khác, ngài còn là khuôn mẫu có tính cách xã hội đối với Đức Giêsu. Ngài đã dạy cho trẻ Giêsu một nghề: Những động tác nghề nghiệp và cách thức hành nghề có ảnh hưởng sâu đậm trong việc cấu tạo nên một con người. Vậy, con người phổ quát của Đức Kitô đã được đặc- dị- hóa trong thời gian, nơi chốn và nghề nghiệp: Đặc- dị – hóa để lại nên phổ quát. Đó chính là “anh thợ mộc” làng Nadaret, một anh thợ mộc “con của bác thợ mộc”. Dấu tích này luôn ghi đậm nét trên mọi cung cách sống của Đức Kitô, từ sự cương nghị, nét hùng dũng bộc lộ qua những bài giảng thuyết cho đến lối vác thánh giá của Người …

Nguyên tác: số mục (14) quyển III          R.Laurentin