Clock-Time

Xác định vài chi tiết trong quãng đời thơ ấu của Đức Kitô

Về ngôi sao chỉ đường cho ba nhà thông thái và về thời gian các ngài đến Bê-lem, chúng ta cũng chẳng biết gì hơn...
+ VẤN:

1. Khi sinh ra Đức Giêsu, Mẹ Maria bao nhiêu tuổi?

2. Ngôi sao chỉ đường cho các nhà thông thái là ngôi sao gì thế ?

3. Các nhà thông thái đến Bê-lem khi nào?

4. Lúc họ đến chầu, Đức Giêsu lên mấy?

5. Có phải Người được dâng vào Đền thánh sau khi đi lánh nạn bên Ai cập về không?

6. Người tị nạn bên Ai Cập trong bao lâu?


+ ĐÁP:

1. Mẹ Maria bao nhiêu tuổi khi sinh Chúa Giêsu ? Hỡi ôi ! Chịu thôi.

Dĩ nhiên, từ xưa đã có nhiều tác giả đưa ra những lời giải đáp cho phần lớn những câu hỏi trên. Chẳng hạn có một số ngụy thư đã xác định rõ số tuổi của Maria vào lúc Truyền tin: Lúc ấy Mẹ được 15 xuân xanh; và vài tài liệu còn cho biết cả số tuổi của Mẹ khi sinh thì nữa: 63 tuổi …

Nhưng, các ngụy thư không phải là những nguồn tài liệu lịch sử nghiêm chỉnh đáng tin cậy. Trước mọi nghi vấn mà tính tò mò của con người có thể đặt ra, chúng đều đưa ra một câu trả lời, thường thì có vẻ khá xác thực, nhưng đôi khi cũng khó tin. Còn những ước đoán mà ta có thể rút ra từ các sách Tin Mừng thì rất mơ hồ. Maria được gọi là Trinh nữ, và từ ngữ đó chỉ sự đồng trinh của Mẹ chứ không đặc biệt ám chỉ Mẹ là “một cô gái”. Có thể lúc ấy mẹ còn trẻ, nhưng đó chỉ là một giả thiết.

2. Về ngôi sao chỉ đường cho ba nhà thông thái và về thời gian các ngài đến Bê-lem, chúng ta cũng chẳng biết gì hơn. Một số tác giả còn nghĩ rằng đoạn Thánh Kinh về ba nhà thông thái được soạn bằng lối văn biểu tượng, theo một “loại văn thể” vốn không đặt nặng mối quan tâm đến các biến cố. Thật thế, bài tường thuật rất giản lược ấy chứa đựng nhiều điểm khó tin. Lối xử sự của Hê-rô-đê, như việc tham khảo ý kiến của Hội đồng Công toạ hay phương thế lạ kỳ dùng để tiêu diệt Hài nhi Giêsu, không am hợp mấy với tính tình đầy mưu mô xảo trá và quỷ quyệt của ông ta … Thực ra, đoạn Tin Mừng về ba nhà thông thái chắc chắn có nền tảng lịch sử; nhưng, vì được viết theo một loại văn đặc biệt, nên ta khó có thể xác định các bối cảnh của biến cố. Đó chính là mầu nhiệm về Đấng Thiên Sai mà Thánh Kinh đã từng tiên báo, được thuật lại với những nét chấm phá đại cương và trong mối bận tâm làm nổi bật những điểm tượng trưng. Rồi về sau, truyền thống còn củng cố thêm điểm nối ấy bằng cách gán cho những vị viễn khách mà thánh Matthêu gọi là ba “nhà thông thái” ấy danh hiệu “vua”, theo như lời tiên tri có tính cách cánh chung trong Thánh vịnh 72, 10:

“Từ Tar-sie đến hải đảo xa xăm

Hàng vương giả sẽ về triều cống.

Cả những vua Ả-rập, Sa-ba,

Cũng đều tới dâng lên lễ vật.”

Matthêu chỉ nói đến vàng và nhũ hương từ phương Đông mang đến như Is 60,6 đã viết :

“Họ từ Sa-ba tiến đến

Mang theo vàng cùng với nhũ hương”.

3. Còn việc dâng Chúa vào Đền thánh xảy ra lúc nào, trước hay sau cuộc tị nạn sang Ai-cập, thì lại liên hệ đến nhiều vấn đề tế nhị khác nữa. Chẳng hạn vấn đề phù hợp giữa các tiết đoạn khác nhau trong Matthêu (việc tàn sát các hài nhi vô tội, việc trốn sang Ai-cập) và trong Luca (việc mục đồng chầu Chúa, việc dâng Chúa vào Đền, việc chuộc Hài nhi Giêsu lại). Hai vị thánh sử đại diện cho hai truyền thống khác nhau, độc lập với nhau và khó mà tổng hợp lại được trong cùng một thời gian biểu. Các vấn đề khác lại lên can đến cuộc tị nạn sang Ai-cập, như : Có thật Giuse đã trốn sang tận Ai-cập, vốn là địa danh tượng trưng cho sự giải phóng It-ra-en không, hay chỉ đi về hướng Ai-cập thôi? Hơn nữa phải chăng đó chỉ là một chi tiết có ý nghĩa thuần tuý biểu tượng như một số nhà chú giải hiện nay vẫn nghĩ? Đây là những vấn nạn khó tìm ra một lời giải đáp. Thật vậy, trong khung cảnh của loại văn thể được Thánh Matthêu sử dụng, ta thường thấy ngài xác định những địa danh với dụng đích tượng trưng. Chẳng hạn như trong những bản văn Qumran, ta thấy có tập tài liệu Đa-mat nói với ý nghĩa tượng trưng về một cuộc lưu đầy sang thành phố này.

4. Theo cha Daníelou, đại diện cho kết quả những cuộc tìm tòi mới đây của Staroky, Xavier Léon Defour và Vogtle, thì chi tiết chắc chắn nhất của đạo Tin Mừng theo thánh Matthêu này chính là việc các nhà thông thái đi đến Bê-lem do niềm tin vào khoa tử vi dựa trên sự xuất hiện của một ngôi sao mới; ngài còn cho rằng việc Hê-rô-đê được tin cho biết về ngày giờ ngôi sao lạ xuất hiện để xác định tuổi của đứa bé và sự đe dọa khiến Giuse phải trốn đi cũng là những điểm chắc chắn. Nhưng, vì tính cách không chính xác về phương diện lịch sử của loại văn được dùng, nên ta không thể xác định cuộc tị nạn sang Ai-cập kéo dài bao lâu. Tuy nhiên, để trả lời cho nghi vấn này ta có thể lưu ý hai điểm :

-  Chúa Giêsu Giáng Sinh trong năm cuối cùng của triều đại Hê-rô-đê. Ai cũng biết rằng kỷ nguyên Kitô giáo do Da-nys Le Petit quy định vào thế kỷ VI, không đúng, vì ông đã tính lầm, và thật ra kỷ nguyên ấy bắt đầu sau cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu đến bốn năm. Vậy, dù thế nào đi nữa  thì đó cũng là một cuộc lưu đầy rất ngắn.

- Biến cố ấy khó xảy ra trước việc dâng Chúa vào Đền thánh. Thực vậy, chỉ 40 ngày sau khi sinh là Chúa đã được đem dâng vào Đền thánh rồi. Nên ta phải đặt cuộc ra đi lánh nạn của Chúa Giêsu vào sau việc dâng Chúa vào Đền: Ngày ra đi và ngày trở về nằm trong cùng một năm với việc dâng Chúa và sau việc dâng ấy. Trong đoạn này, thánh sử muốn ám chỉ đến một sự tái diễn những thử thách gian truân Israel đã phải chịu bên Ai-cập và việc Thiên Chúa giải phóng dân ấy, cốt làm cho ta hiểu rằng Đức Kitô là Đấng Giải Phóng, ngay cả trong những giai đoạn tăm tối nhất của thời thơ ấu Người.

Bởi thế cho nên thánh Matthêu, trong đoạn 5 câu 12, đã trích lời tiên tri Hô-sê (11,1) : “Ta đã dẫn dắt các con Ta từ Ai-cập về” ; nhưng, ngài thay đổi một chút và viết: “Ta đã dẫn dắt Con Ta từ Ai-cập về”. Thực vậy, ở những chỗ khác trong Thánh kinh, Thiên Chúa gọi Israel là “Con Ta”. Tất cả ý nghĩa của từ tính này dựa vào Đức Giêsu Kitô. Ở đây, qua một thí dụ cụ thể, ta bắt gặp được cách thánh Matthêu trình bày cho ta khuôn mặt Đức Kitô. Ta không nên ngạc nhiên và khó chịu về “cách” ấy và những cách thế trình bày tương tự. Đó là điều quy luật viết văn đòi hỏi, vì khi viết, ta phải sử dụng những tiếng, những chữ. Thế mà, ngữ vựng của ta lại bị giới hạn. Cho nên, viết tức là chọn một cách thế diễn tả và chấp nhận những nghèo nàn cùng giới hạn của nó: Đó là cái mà người ta gọi là văn loại, tức cách huy động, sử dụng các từ theo một hình thức, một đà hứng, một bút pháp nào đó… Chính các thánh sử cũng đã phải chấp nhận một sự chọn lựa như thế để diễn đạt chân lý mà các ngài có bổn phận phải thông truyền cho chúng ta.

Nhà văn cũng giống như một nghệ sĩ phải làm một bức tranh khảm với những viên sỏi nhỏ đầy góc cạnh. Chính với những viên gạch vuông, nhọn, thẳng, xéo ấy mà nhà nghệ sĩ phải tạc được những đường cong nét uốn của khuôn mặt con người. Và, cho dầu các màu sắc của đá hoàn toàn khác xa với sắc diện của một khuôn mặt, chúng cũng thành công; và đôi khi chúng ta lại bị thu hút bởi vẻ đẹp của một gương mặt được diễn tả và biến hóa do nghệ thuật tranh khảm như thế. Rồi, khi đến gần, chúng ta mới ngẩn ngơ khi thấy rằng đó chỉ là một tập hợp những viên sỏi nhỏ thô kệch, đẽo gọt sơ sài … Nhà chú giải (kẻ giải thích ý nghĩa của Thánh Kinh) là người biết nhìn vào những viên sỏi ấy và cố tìm ra cơ cấu hòa hợp cùng ý nghĩa của chúng. Ông ta không bao giờ được quên điểm cốt yếu, đó là khuôn mặt. 

Vậy, lợi ích do những cuộc tìm tòi khảo cứu bản văn Thánh Kinh mang lại không phải như ta thường nghĩ. Nó không hề giúp ta tiến thêm trong việc làm thỏa mãn sự tò mò của ta về những chi tiết trong cuộc đời Đức Giêsu. Trái lại, đôi khi nó còn chận đứng nỗ lực ấy nữa. Ta mù tịt đối với phần lớn những chi tiết ấy, cũng như ta chẳng biết gì về những đường nét của khuôn mặt Người. Nhưng việc tìm tòi nghiên cứu sách thánh lại giúp ta đào sâu múc cạn điểm cốt yếu: Ý nghĩa tôn giáo của các bản văn. Chẳng hạn như trong trường hợp chương 1 và chương 2 của Tin Mừng theo thánh Matthêu thì đó là vai trò mầu nhiệm được trao phó cho người trinh nữ trong lịch sử cứu độ theo lời tiên báo của ngôn sứ Isaia, và là ơn cứu độ được tặng ban cho chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô. Đồng thời, sự học hỏi tìm tòi còn dạy ta phải biết khiêm tốn đối với những khía cạnh có tính cách giai thoại của Tin Mừng. Các thánh sử đã viết Sách Thánh, không phải để thỏa mãn thị hiếu hay tính tò mò của ta; nên, khi ta đến chất vấn các ngài với tinh thần đó, ta sẽ thất vọng. Nhưng, khi đến hỏi han các ngài để tìm hiểu mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô và con đường cứu rỗi, hoặc khi đến tìm nơi các ngài bí mật đời sống thần linh, thì ta lại được thỏa mãn tràn trề. Chúa trở nên gần hơn. Mầu nhiệm về quãng đời thơ ấu và về cái chết của Người cũng như gương mẫu của Mẹ rất thánh Người lại trở nên sáng sủa hơn Tin Mừng nuôi dưỡng đức tin và đức ái trong ta, nhưng lại tiêu hủy dần dần tính tò mò trong ta. Vậy, sách ấy đã được viết ra như thế nào, bạn hãy biết đọc nó y như vậy.

Nguyên tác: số mục (15) quyển III           R.Laurentin