Header

Mô hình “Đồng hành sáu bước” với chủng sinh trong tiến trình trưởng thành nhân bản - Một gợi hứng từ tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen

Bài viết đề xuất mô hình “Đồng hành sáu bước” với chủng sinh, lấy cảm hứng từ tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen và đối chiếu với Ratio 2016. Mục tiêu là chuyển từ mô hình kiểm soát sang Đồng hành cá vị, giúp chủng sinh đạt sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng. Qua đó, nhà đào tạo trở thành người Đồng hành nhân hậu, hỗ trợ chủng sinh đối diện trung thực với bản thân và ơn gọi.

BÀI VIẾT – CHIA SẺ

MÔ HÌNH “ĐỒNG HÀNH SÁU BƯỚC” VỚI CHỦNG SINH TRONG TIẾN TRÌNH

TRƯỞNG THÀNH NHÂN BẢN - MỘT GỢI HỨNG TỪ TƯ TƯỞNG

CỦA CHÂN PHƯỚC FULTON SHEEN

A. DẪN NHẬP

B. NỘI DUNG

I. NỀN TẢNG CỦA VIỆC ĐỒNG HÀNH VỚI CHỦNG SINH TRONG TIẾN TRÌNH TRƯỞNG THÀNH NHÂN BẢN

1. Đồng hành với chủng sinh trong việc đào tạo linh mục

a. Nền tảng nhân học của việc đồng hành với chủng sinh trong chủng viện theo Ratio 2016

b. Từ mô hình kiểm soát sang mô hình đồng hành cá vị

2. Việc trưởng thành nhân bản của chủng sinh

a. Đào tạo nhân bản cho chủng sinh là nền tảng thiết yếu

b. Bản chất của việc trưởng thành nhân bản của chủng sinh

b.1. Hiểu biết chính mình

b.2. Trưởng thành tình cảm

II. TƯ TƯỞNG CỦA CHÂN PHƯỚC FULTON SHEEN VỀ NHÂN BẢN KITÔ GIÁO

1. Con người trong tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen

a. Con người toàn diện và bản tính linh hoạt vô biên

b. Tự biết mình và việc ý thức tội lỗi cá nhân

c. Sự trưởng thành trong tình yêu

2. Đối chiếu tư tưởng Chân phước Fulton Sheen về nhân bản Kitô giáo với Ratio 2016

III. MÔ HÌNH “ĐỒNG HÀNH SÁU BƯỚC” VỚI CHỦNG SINH TRONG TIẾN TRÌNH TRƯỞNG THÀNH NHÂN BẢN

1. Cấu trúc và nền tảng của mô hình

2. Sáu bước đồng hành:

a. Bước 1: Hiện diện

b. Bước 2: Lắng nghe

c. Bước 3: Phân định

d. Bước 4: Phản hồi

e. Bước 5: Hướng dẫn và đồng trách nhiệm

f. Bước 6: Quan sát và lượng giá

3. Điều kiện áp dụng mô hình “Đồng hành sáu bước” trong chủng viện

a. Phân biệt rõ ràng “Tòa trong” và “Tòa ngoài”

b. Đào tạo thường xuyên cho các nhà đào tạo

c. Nhấn mạnh việc đồng hành cá nhân

d. Xây dựng khả năng tự trưởng thành cho chủng sinh

C. KẾT LUẬN

A. DẪN NHẬP

Trong việc đào tạo linh mục hiện nay, một trong những câu hỏi căn bản nhất đó là: Làm thế nào để giúp chủng sinh đạt tới sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng, để họ có thể tự do dâng hiến chính mình cho Đức Kitô và phục vụ Dân Chúa? Bởi vì, mỗi một chủng sinh khi bước vào chủng viện đều mang theo một lịch sử, một gia đình, một nền giáo dục, những kinh nghiệm và những khó khăn riêng, những cảm xúc cô độc, sự giằng xé nội tâm… Hơn nữa, thời đại kỹ thuật số hôm nay, mặc dù mở ra nhiều cơ hội để học tập và nối kết, nhưng thời đại này cũng đem đến cho các chủng sinh nhiều thử thách mới. Chính điện thoại thông minh, các trang mạng xã hội và những dòng thông tin liên tục đã khiến một số chủng sinh bị ảo hóa các mối tương quan, không giữ được sự thinh lặng, khó giữ được sự tập trung lâu, không thể nhận ra những gì đang diễn ra trong lòng mình và không có một đời sống nội tâm sâu sắc. Những điều này, một cách nào đó, gần giống với điều mà Chân phước Fulton Sheen (1895-1979) - một vị mục tử, nhà tư tưởng, triết gia và là một nhà truyền thông xuất chúng - đã đề cập đến từ lâu khi nói về nỗi “tuyệt vọng âm thầm” (quiet desperation) của con người thời đại ngài, trong tác phẩm Lift Up Your Heart: “Hàng triệu người nam và nữ ngày nay đang sống cái gọi là ‘những cuộc sống tuyệt vọng âm thầm’. Họ là những tâm hồn hoảng loạn, lo âu, rối loạn thần kinh, sợ hãi và trên hết là tuyệt vọng”.[1]

Thật ra, không phải Giáo hội không biết những điều trên. Trái lại, Giáo hội rất quan tâm đến chính những điều ấy trong việc đào tạo linh mục. Ngay từ năm 1992, với Tông huấn Pastores Dabo Vobis, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã đặt việc đào tạo nhân bản làm nền tảng của việc đào tạo linh mục. Đến năm 2016, Bộ Giáo sĩ, trong Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (Ratio 2016) cũng nhấn mạnh đến chiều kích cá vị và trách nhiệm của chính chủng sinh đối với sự trưởng thành của mình.[2] Và như thế, các nhà đào tạo không thể chỉ đứng bên cạnh chủng sinh mà phải thật sự đồng hành với họ trong tiến trình trưởng thành nhân bản.

Từ những điều trên và được gợi hứng bởi tư tưởng của Chân phước Fulton J. Sheen, bài viết muốn tìm hiểu một số tư tưởng của ngài về nhân bản rồi đối chiếu với Ratio 2016. Qua đó, bài viết đề nghị một “mô hình đồng hành sáu bước với chủng sinh” trong tiến trình trưởng thành nhân bản. Mô hình này không phải là một phương pháp hay cách thức đồng hành mà Chân phước Fulton J. Sheen đã đưa ra, nhưng là cách bài viết nối kết những tư tưởng của ngài vào việc đồng hành mà các nhà đào tạo trong chủng viện vẫn phải làm mỗi ngày theo hướng dẫn của Giáo hội, nhằm giúp các chủng sinh nhìn lại mình, giúp họ trưởng thành hơn về mặt nhân bản và cùng họ bước đi trên con đường ơn gọi, để trở nên những mục tử như lòng Chúa mong ước.

B. NỘI DUNG

I. NỀN TẢNG CỦA VIỆC ĐỒNG HÀNH VỚI CHỦNG SINH TRONG TIẾN TRÌNH TRƯỞNG THÀNH NHÂN BẢN

1. Đồng hành với chủng sinh trong việc đào tạo linh mục

a. Nền tảng nhân học của việc đồng hành với chủng sinh trong chủng viện theo Ratio 2016[3]

Ratio 2016, số 28, khẳng định rằng mỗi chủng sinh là một con người vô cùng độc đáo. Họ vừa có những khả năng và phẩm chất riêng biệt; vừa mang trong mình những giới hạn và sự mong manh. Vì thế, việc đào tạo linh mục không phải là áp đặt một khuôn mẫu có sẵn, nhưng giúp chủng sinh nhận biết, hội nhập và quân bình các chiều kích của đời sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Tiếp đến, ở số 29, Ratio 2016 nhìn nhận mỗi chủng sinh như là một hữu thể tương quan: tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, chủng sinh được mời gọi vượt ra khỏi cái tôi của mình để hướng về Chúa Cha và tha nhân trong Đức Kitô. Qua đó, họ từng bước hình thành sự tự do nội tâm, biết tự chủ, nhận biết bản thân và quảng đại với người khác. Đây là một tiến trình vừa nhân bản vừa thiêng liêng, đòi hỏi thời gian và sự đồng hành thích hợp. Trong tiến trình này, việc đồng hành cá nhân giữ một vai trò vô cùng quan trọng, mặc dù việc đồng hành với các chủng sinh trong chủng viện vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đoàn. Bởi vì, nhà đào tạo không thể thay thế chủng sinh, nhưng có thể giúp họ đối diện một cách trung thực với chính mình trước Thiên Chúa, trong sự tôn trọng tự do và phẩm giá cá nhân.

Vì vậy, việc đồng hành với chủng sinh trong chủng viện có nền tảng nhân học và giúp chủng sinh trưởng thành nhân bản.

b. Từ mô hình kiểm soát sang mô hình đồng hành cá vị

Khi nói đến việc đồng hành trong chủng viện, người ta thường nghĩ ngay đến việc các nhà đào tạo theo sát đời sống chủng sinh để hiểu rõ họ. Và có lẽ trong quá khứ, nhiều nhà đào tạo đã suy nghĩ và hành động theo hướng ấy. Mục đích có thể là tốt nhưng đó là mô hình kiểm soát và có thể đã gây ra những điều tiêu cực nơi các chủng sinh như: hình thức, thụ động, “mặt nạ trong đời tu”,… Thật ra, việc đồng hành với các chủng sinh trong chủng viện không phải vậy. Việc này có nền tảng và bản chất sâu xa trong Tin mừng, với mẫu gương cụ thể là Chúa Giêsu trên hành trình Emmaus (x. Lc 24,13-25). Trên hành trình ấy, Chúa Giêsu đã không xuất hiện như một quan tòa hay một triết gia, nhưng chủ động tiến lại gần hai môn đệ, bước đi với họ, kiên nhẫn lắng nghe những hoang mang thất vọng và tổn thương của họ, trước khi Người giải thích Kinh thánh và thực hiện hành vi bẻ bánh để họ nhận ra Người.[4]

Năm 2016, Bộ Giáo sĩ, qua Ratio, đã xác định việc đồng hành trong chủng viện là một tiến trình vừa mang tính cá vị (personal accompaniment) vừa mang tính cộng đoàn (community accompaniment), nhằm giúp các chủng sinh nhận ra ơn gọi của mình dưới tác động của Chúa Thánh Thần.[5] Một cách cụ thể, việc đồng hành này phải diễn ra trong bầu khí an toàn, dựa trên niềm tin tưởng lẫn nhau giữa chủng sinh và nhà đào tạo.[6] Đến năm 2019, Đức Thánh cha Phanxicô, trong Tông huấn Christus Vivit, đã soi sáng thêm về việc đồng hành, khi ngài nhấn mạnh rằng đồng hành không phải là áp đặt một bản đồ, một chương trình hay kế hoạch cách độc đoán, mà là tôn trọng tự do lương tâm và sự hoán cải của con người.[7]

Như vậy, việc đồng hành trong chủng viện hiện nay đã chuyển từ mô hình đồng hành kiểm soát sang mô hình đồng hành cá vị rất rõ ràng, đúng như yêu cầu và hướng dẫn của Giáo hội. Điều này dẫn đến nhà đào tạo phải hoán cải toàn diện, để trở nên “người Samaritanô nhân hậu” chứ không phải là một “nhà kế toán thiêng liêng”.[8] Một nhà đào tạo nhân hậu và bản lĩnh là người không có “thái độ dò xét lỗi lầm” của chủng sinh, không nâng những sơ suất nhỏ nhặt thành những sai phạm nghiêm trọng để đè bẹp chủng sinh.[9] Trái lại, nhà đào tạo phải kiên trì với những giới hạn về nhân bản của chủng sinh theo gương Chúa Giêsu khi Người đối diện với những yếu đuối của các Tông đồ.

2. Việc trưởng thành nhân bản của chủng sinh

a. Đào tạo nhân bản cho chủng sinh là nền tảng thiết yếu

Trong chương trình tổng thể của việc đào tạo linh mục, Giáo hội luôn nhất quán khẳng định rằng việc đào tạo nhân bản không phải là việc chuẩn bị sơ khởi hay phụ trợ, mà là nền tảng cần thiết (necessary foundation) cho sự phát triển toàn diện của chủng sinh-linh mục tương lai. Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, số 43, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đưa ra một định hướng thần học về điều này như sau: “‘Toàn bộ công trình đào tạo linh mục sẽ bị tước mất nền tảng cần thiết nếu thiếu một nền đào tạo nhân bản thích hợp’… Linh mục, người được gọi để trở nên ‘hình ảnh sống động’ của Đức Giêsu Kitô, Đầu và Mục tử của Hội thánh, phải cố gắng phản chiếu nơi chính mình, trong mức độ có thể, sự hoàn thiện nhân bản tỏa sáng nơi Con Thiên Chúa nhập thể. Sự hoàn thiện ấy được biểu lộ một cách sống động qua thái độ của Người đối với tha nhân, như chúng ta đã thấy được thuật lại trong các sách Tin mừng… Để thừa tác vụ của các linh mục đáng tin cậy và dễ đón nhận hết sức có thể trên bình diện nhân bản, điều quan trọng là linh mục phải trau dồi nhân cách của mình cách thích hợp, để nhân cách ấy trở thành một chiếc cầu nối chứ không phải là một chướng ngại vật cho người khác trong việc gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc nhân loại.”[10] Định hướng này đã được Bộ Giáo sĩ tiếp nối và cụ thể hóa trong Ratio 2016, khi tái khẳng định “chiều kích nhân bản là ‘nền tảng cần thiết và năng động’ của toàn bộ đời sống linh mục”[11] Đồng thời, Bộ Giáo sĩ cũng nhắc lại tư tưởng thần học kinh điển của thánh Tôma Aquinô về vấn đề nhân bản: ‘“ân sủng đòi phải có bản tính tự nhiên trước’, ân sủng không thay thế nhưng hoàn thiện bản tính tự nhiên.”[12] Như thế, có thể hiểu được rằng ân sủng của Bí tích Truyền chức không biến đổi linh mục thành một con người siêu nhiên tách biệt khỏi các quy luật tâm lý, xã hội thường thức. Nhưng, ân sủng này giúp linh mục kiện toàn bản tính tự nhiên của mình.

b. Bản chất của việc trưởng thành nhân bản của chủng sinh

Theo Ratio 2016, sự trưởng thành nhân bản của chủng sinh được thể hiện trước hết và trên hết qua hai việc: hiểu biết chính mình và trưởng thành về mặt tình cảm[13]. Hai việc này gắn bó và bổ sung nhau. Bởi vì, một chủng sinh không hiểu mình thì khó có thể điều chỉnh cảm xúc một cách trưởng thành. Ngược lại, một chủng sinh trưởng thành về mặt tình cảm sẽ biết nhìn nhận bản thân một cách thực tế và tự do hơn.

b.1. Hiểu biết chính mình

Hiểu biết chính mình là bước khởi đầu của cả việc đào tạo nhân bản lẫn đào tạo thiêng liêng. Chủng sinh cần biết mình là ai và đâu là những giới hạn, nhu cầu, động lực, những tổn thương làm ảnh hưởng đến suy nghĩ, sự lựa chọn và tương quan của họ với người khác. Chính vì thế, việc hiểu biết chính mình được thể hiện qua khả năng nhận biết bản thân cách thực tế, khả năng đọc lại lịch sử bản thân, khả năng đón nhận và phản hồi, khả năng biết nhận trách nhiệm, khả năng nhận diện và ứng phó với những khủng hoảng cá nhân của chính chủng sinh. Về những điều này, Ratio 2016 đã nhấn mạnh: “điều quan trọng là mỗi chủng sinh, một mặt, phải ý thức về lịch sử bản thân, về cách họ đã sống tuổi thơ và tuổi thiếu niên của mình, về ảnh hưởng của gia đình và thân bằng quyến thuộc trên mình, về khả năng thiết lập những mối tương quan liên vị trưởng thành và quân bình, cũng như khả năng ứng phó tích cực khi gặp cô đơn, và, mặt khác, họ phải cởi mở với các nhà đào tạo về tất cả những khía cạnh này.”[14]

b.2. Trưởng thành tình cảm

Trưởng thành tình cảm là việc chủng sinh biết đón nhận tình yêu, trao ban tình yêu và phân định những gắn bó tình cảm của mình, để đời sống độc thân khiết tịnh không trở thành một sự từ khước tình yêu nhưng là một cách thức chủng sinh trao hiến chính mình theo gương Chúa Giêsu Kitô. Do đó, việc trưởng thành tình cảm được thể hiện qua khả năng nhận biết và điều hướng cảm xúc, sự quân bình trong các tương quan (đặc biệt với nữ giới), khả năng sống độc thân khiết tịnh cách tự do và tích cực, khả năng yêu thương và biết trao ban chính mình và sự trung thực trong đời sống tình cảm. Bởi vì, trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho biết nền tảng thần học của việc trưởng thành tình cảm này chính là tình yêu của Chúa Giêsu Kitô và Hội thánh: “Hội thánh xét như Hôn Thê của Chúa Giêsu Kitô mong muốn được linh mục yêu mến một cách hoàn toàn và độc chiếm giống như Chúa Giêsu Kitô Đầu và Hôn Phu đã yêu mến Hội thánh”[15]

II. TƯ TƯỞNG CỦA CHÂN PHƯỚC FULTON SHEEN VỀ NHÂN BẢN KITÔ GIÁO

1. Con người trong tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen

a. Con người toàn diện và bản tính linh hoạt vô biên

Một trong những nét nổi bật nhất trong tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen, đó là một cái nhìn toàn diện về con người. Theo ngài, con người phải được tiếp cận trong tính toàn diện. Bởi vì, con người là một thể hợp nhất giữa thân xác và linh hồn (body-soul composite), có trí tuệ để nhận biết chân lý, có ý chí để chọn lựa điều thiện và là một hữu thể, về bản chất luôn hướng về Thiên Chúa.[16] Vì thế, con người không bao giờ có thể bị giản lược về mặt thân xác, tâm lý, hay bất cứ chức năng xã hội nào. Chính trong tác phẩm Way To Happiness, Chân phước Fulton Sheen đã khẳng định phẩm giá siêu việt của con người như sau: “Con người là thụ tạo cao quý nhất trên thế gian: con người quan trọng hơn mọi lý thuyết, mọi chính phủ, mọi kế hoạch, bởi thế giới và những gì thuộc về nó cũng không đáng giá bằng một linh hồn bất tử.”[17]

Theo Chân phước Fulton Sheen, bên cạnh phẩm giá siêu việt, con người còn sở hữu một “bản tính linh hoạt vô biên” (infinite plasticity). Trong tác phẩm Old Errors And New Labels, ngài mô tả bản tính này trao cho con người một năng lực được gọi là “sự quy hướng nội tâm” (movement into oneself) để tự phản tỉnh, tìm hiểu sự hiện hữu của mình và hướng về thực tại siêu việt.[18] Tâm hồn con người luôn mang nỗi khao khát trọn vẹn ba điều: Sự sống vô biên, chân lý vô biên và tình yêu vô biên. Thật vậy, học giả Troy Kassien đã đúc kết rất xuất sắc về luận điểm này của Chân phước Fulton Sheen như sau: “Theo Đức cha Sheen, con người biểu lộ một khát vọng không chỉ đối với một sự sống nào đó, mà đúng hơn là đối với sự sống vô biên; không chỉ đối với một mức độ nào đó của chân lý, mà đối với chân lý vô biên; không phải đối với một tình yêu nào đó, mà đối với tình yêu vô biên và không cùng tận. Ngài viết rằng con người, ‘trong tất cả các thụ tạo trên trái đất, là hữu thể duy nhất có khả năng tự điều chỉnh để hòa điệu với thực tại vô biên’”.[19]

b. Tự biết mình và việc ý thức tội lỗi cá nhân

Trong tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen, việc tự biết mình có một vị trí quan trọng trên hành trình tìm kiếm bình an nội tâm của con người.[20] Khả năng tự nhận thức ấy luôn gắn liền với việc ý thức tội lỗi cá nhân.

Trong tác phẩm Peace Of Soul, Chân phước Fulton Sheen đã phê phán “psychological materialism” (chủ nghĩa duy vật tâm lý), điều mà ngài gọi là “triết lý của Freud”[21]. Theo ngài, khi số phận cá nhân được giải thích như thể được quyết định bởi những lực thúc đẩy của bản năng, thì tự do tinh thần con người cũng bị phủ nhận. Từ nền tảng đó, ngài đặc biệt phê phán những phương pháp trị liệu phủ nhận trách nhiệm luân lý, đồng thời xem việc thừa nhận tội lỗi và tội lỗi cá nhân như một biểu hiện của tình trạng bệnh lý (morbid) hay của “mặc cảm tội lỗi” (guilt complex).[22] Ngài khẳng định rằng việc thừa nhận và thành thật đối diện với tội lỗi của bản thân giữ vai trò quan trọng trong việc chữa lành đời sống nội tâm. Con người không thể đạt được sự bình an đích thực nếu phủ nhận hoặc che giấu lỗi lầm của mình. Trái lại, việc nhận biết, thú nhận và đối diện với tội lỗi của bản thân sẽ mở ra một con đường dẫn đến sự giải thoát nội tâm và phục hồi sự bình an trong tâm hồn.[23] Chân phước Fulton Sheen còn đi xa hơn, khi ngài phân biệt rõ ràng giữa sự bình an trong tâm trí (peace of mind) và sự bình an trong tâm hồn (peace of soul). Theo ngài, sự bình an trong tâm trí có thể được tìm kiếm qua sự điều chỉnh (adjustment) tâm lý hay sự thích nghi và sự thăng hoa (sublimation), thậm chí sự bình an này còn có thể đạt được qua trạng thái “tê liệt lương tâm” (killing conscience) hoặc “phủ nhận tội lỗi” (denying guilt). Trái lại, sự bình an trong tâm hồn không phải là sự điều chỉnh tâm lý đơn thuần nhưng là sự “an bình của trật tự” (tranquillity of order), trong đó giác quan quy phục lý trí, lý trí quy phục đức tin và toàn thể con người quy phục Thiên Chúa.[24]

Từ những quan điểm trên, Chân phước Fulton Sheen đã tiếp tục phân biệt hai hình thức bộc lộ nội tâm, đó là phân tâm học và việc xưng tội trong Bí tích Hòa Giải. Theo ngài, phân tâm học diễn tả những thái độ của tâm trí thuộc phạm vi vô thức, còn xưng tội là hành vi thú nhận tội lỗi trong lương tâm (confession is an avowal of guilt in conscience), một sự hiệp thông giữa lương tâm và Thiên Chúa (communion of conscience and God)[25]

c. Sự trưởng thành trong tình yêu

Trong tác phẩm Three To Get Married, Chân phước Fulton Sheen đã cho thấy một sự khác biệt căn bản nhất giữa bản năng tính dục vị kỷ và tình yêu tự hiến, khi ngài đúc kết thật sâu sắc: “Bản năng tính dục tìm kiếm một phần; tình yêu đích thực tìm kiếm toàn bộ nhân vị” (Sex seeks the part; love, the totality).[26]

Tình yêu đích thực ấy lên đến đỉnh cao là tình yêu tự hiến. Thật vậy, trong tác phẩm The Priest Is Not His Own, Chân phước Fulton Sheen đã đặt tình yêu ấy của linh mục Công giáo trong mầu nhiệm “Sacerdos-Victima” của Đức Kitô, khi suy tư về chức linh mục Công giáo. Và đây cũng chính là điểm độc đáo nhất: linh mục Công giáo vừa là tư tế vừa là lễ vật như Đức Kitô, Đấng là vừa là Tư tế vừa là Lễ vật hiến tế dâng lên Thiên Chúa Cha. Vì thế, theo Chân phước Fulton Sheen, linh mục sẽ không thể hiểu đầy đủ căn tính của mình nếu chỉ nhìn mình là người dâng lễ mà không trở nên lễ vật cùng với Đức Kitô.[27]

Như thế, qua tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen, sự trưởng thành trong tình yêu phải là một sự chuyển đổi: từ bản năng vị kỷ sang tình yêu tự hiến; linh mục Công giáo trưởng thành trong tình yêu nghĩa là có và sống tình yêu tự hiến như Đức Kitô.

2. Đối chiếu tư tưởng Chân phước Fulton Sheen về nhân bản Kitô giáo với Ratio 2016

Chủ đề
Tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen
Ratio 2016
Nền tảng
Con người toàn diện với bản tính linh hoạt vô biên.
Ân sủng kiện toàn bản tính tự nhiên (các số: 89, 93).
Đào tạo
Tự biết mình, ý thức tội lỗi bản thân, thú nhận tội lỗi, nhận trách nhiệm.
Nhà đào tạo phải trở nên “người Samaritanô nhân hậu”, chủng sinh là người chủ chốt đào tạo bản thân mình (các số: 20, 94, 96, 120, 130, 178).
Trưởng thành tình cảm
Trưởng thành trong tình yêu: tình yêu tự hiến.
Chiều kích nhân bản, trưởng thành tình cảm (các số: 93-96, 110).
Căn tính linh mục
Thống nhất không tách rời giữa linh mục và lễ vật.
Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục tử, trao ban sự sống cho đàn chiên (các số: 35, 40-42, 68-70, 89, 110).

Sự đối chiếu trên không cho thấy Chân phước Fulton Sheen đã xây dựng một chương trình hay một hệ thống về nhân bản như Ratio 2016. Đúng hơn, sự đối chiếu này cho thấy tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen có thể được sử dụng như một nguồn gợi hứng để suy tư và hiện thực hóa các hướng dẫn về đào tạo linh mục của Giáo hội liên quan đến chiều kích đào tạo nhân bản, cách riêng là Ratio 2016.

III. MÔ HÌNH “ĐỒNG HÀNH SÁU BƯỚC” VỚI CHỦNG SINH TRONG TIẾN TRÌNH TRƯỞNG THÀNH NHÂN BẢN

1. Cấu trúc và nền tảng của mô hình

Mô hình “đồng hành sáu bước” với chủng sinh trong tiến trình trưởng thành nhân bản được đề xuất dưới đây, là mô hình dựa trên sự đối chiếu và tích hợp giữa tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen về nhân bản và những định hướng về đào tạo linh mục của Ratio 2016. Mô hình này không phải là mô hình do chính Chân phước Fulton Sheen trực tiếp xây dựng, nhưng là một đề xuất tổng hợp nhằm chuyển một số nguyên tắc hay tiêu chí của việc trưởng thành nhân bản thành một lộ trình có thể áp dụng vào việc đồng hành với chủng sinh trong chủng viện.

Lộ trình này bao gồm sáu bước đồng hành tạo thành một chuyển động liên tục: Hiện diện " lắng nghe " phân định " phản hồi " hướng dẫn và đồng trách nhiệm " quan sát và lượng giá.

Điểm đến của lộ trình trên không phải là một sự lệ thuộc vào nhà đào tạo ngày càng lớn, nhưng là khả năng trưởng thành về nhân bản của chính chủng sinh: biết mình, phân định, quyết định, chịu trách nhiệm và tiếp tục sống ơn gọi trong tiến trình đào tạo trường kỳ.

Mô hình “đồng hành sáu bước”: Lộ trình sáu bước đồng hành chuyển động liên tục[28]

2. Sáu bước đồng hành:

a. Bước 1: Hiện diện

Đồng hành luôn bắt đầu bằng sự hiện diện.

Khi suy tư về các cấp độ thân mật của tình yêu và giao tiếp nhân vị, Chân phước Fulton Sheen đã nhấn mạnh đến sự hiện diện trực tiếp trong tương quan giữa người với người.[29] Trong việc đồng hành, tư tưởng này nhắc các nhà đào tạo một điều rất cơ bản, đó là: chủng sinh trước hết là một con người cần được gặp gỡ, chứ không phải là một “trường hợp” cần phải xử lý.

Vì vậy, trước khi đồng hành với chủng sinh, nhà đào tạo cần phải hiện diện với họ. Sự hiện diện này đòi hỏi nhà đào tạo phải “hiện diện toàn thời gian” (full-time presence) với chủng sinh.[30] Điều đó cũng không có nghĩa là can thiệp liên tục trên đời sống của chủng sinh nhưng luôn ở bên họ khi cần.

b. Bước 2: Lắng nghe

Khi suy tư về giá trị lời nói của con người, Chân phước Fulton Sheen đã nhận định như sau: “Lời nói có thể được xem là sự kết tinh của một linh hồn: tất cả những gì linh hồn ấy đã từng là, đang là và tất cả những gì nó sẽ trở thành; chỉ cần nghe một người nói, chúng ta có thể nhận ra người ấy kiêu ngạo, khiêm nhường, độc ác hay nhân hậu” (Speech might be called the summation of a soul; all that it has been, all that it is, and all that it will ever be - we need only to hear a person speak and we can say: ‘he is a proud man’; ‘he is a humble man’; ‘he is a cruel man’; ‘he is a charitable man.’”).[31] Nếu lời nói có thể được xem là sự kết tinh của một linh hồn, thì việc lắng nghe không thể chỉ nhằm thu thập thông tin mà còn là mở ra không gian, để trong đó con người có thể nói thật về chính mình.

Ratio 2016 không những nhấn mạnh đến việc lắng nghe mà còn chỉ dẫn rằng các linh mục tương lai phải đặt trọng tâm cuộc đời mình vào việc lắng nghe Tin mừng.[32] Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Tông huấn Christus Vivit cũng đề cao một sự lắng nghe người trẻ khi đồng hành với họ trong chính đời sống và hoàn cảnh của họ.[33]

Như thế, trong bước 2 này, khi đồng hành, nhà đào tạo phải lắng nghe và quan tâm đến con người cụ thể của chủng sinh với chính hoàn cảnh của họ một cách chăm chú, trân trọng và không thành kiến. Đồng thời, cả nhà đào tạo và chủng sinh phải lắng nghe Tin mừng, để nghe được tiếng Chúa nói.

c. Bước 3: Phân định

Theo Ratio 2016, số 43, mục tiêu chính của việc đào tạo linh mục là phải đào tạo nên những con người biết phân định theo Thánh Thần, để rồi thực hiện điều Thiên Chúa muốn: “Đào tạo linh mục là một công trình biến đổi, công trình này đổi mới con tim và trí óc con người, để họ có thể ‘phân định đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt lành, cái gì đẹp lòng Thiên Chúa, cái gì là hoàn hảo’ (Rm 12,2). Suốt tiến trình đào tạo, [việc] phát triển nội tâm có mục tiêu chính là dần dần biến linh mục tương lai thành một ‘con người biết phân định’ biết đọc ra những thực tại trong đời sống con người dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, và do đó biết lựa chọn, quyết định và hành động theo ý Thiên Chúa. Vấn đề cần phân định trước nhất chính là đời sống của mỗi người. Công việc này nhằm đưa vào đời sống thiêng liêng, cả lịch sử bản thân lẫn tất cả những gì làm nên lịch sử ấy. Như vậy, ơn gọi linh mục không bị giam hãm trong một lý tưởng trừu tượng, cũng không có nguy cơ bị giản lược thành một hoạt động đơn thuần mang tính tổ chức và thực hành vốn chỉ nằm ở bên ngoài ý thức khi làm. ” Qua những lời này, Bộ Giáo sĩ mời gọi đưa lịch sử bản thân và những gì liên quan vào đời sống tâm linh, có nghĩa là phải nhìn lịch sử ấy với cái nhìn của đức tin và mỗi người phải phát triển từ chính sự thật về bản thân mình. Thiên Chúa sẽ dẫn dắt mỗi người theo con đường riêng của họ dựa trên những gì đã và đang diễn ra trong cuộc đời của họ. Mặc cho những tích cực hay tiêu cực, theo cách nhìn của con người, về lịch sử cuộc đời của họ, Thánh Thần không bao giờ chịu thua sự dữ do con người gây ra và Ngài có cách để dẫn dắt từng người đi tới trước. Và khi xâu chuỗi những sự kiện, những biến cố rời rạc trong cuộc đời lại với nhau - nhờ cầu nguyện và trao đổi với nhà đào tạo -, chủng sinh sẽ dần dần khám phá được lộ trình Thánh Thần đang dẫn đưa cuộc đời mình để bước theo.[34]

Từ sự hướng dẫn của Ratio 2016, trong bước 3 này, khi đồng hành, nhà đào tạo sẽ giúp chủng sinh phân định trong Thánh Thần và cùng họ thực hiện tiến trình ấy. Điều này cũng còn có nghĩa là qua việc phân định, nhà đào tạo giúp chủng sinh nhận ra: đâu là tự do, đâu là lệ thuộc; đâu là lòng quảng đại, đâu là nhu cầu cần được công nhận; đâu là lời mời gọi của Chúa và đâu là cơ chế tự vệ… Bên cạnh đó, dựa trên quan niệm của Chân phước Fulton Sheen: con người có khả năng suy tư, đặt câu hỏi, học hỏi và tự phản tỉnh[35], vì thế, nhà đào tạo có thể đưa ra cho chủng sinh những câu hỏi mang tính hiện sinh, để giúp họ đi sâu vào nội tâm của mình, nhận diện được con người thật của mình, nhằm đạt tới sự biết mình một cách chân thực nhất.

d. Bước 4: Phản hồi

Đồng hành mà không dám nói sự thật sẽ trở thành một hình thức “nuông chiều” và mất đi ý nghĩa của chính việc đồng hành. Về điều này, Chân phước Fulton Sheen đã khẳng định một nguyên tắc luân lý bất biến: “Đúng là đúng, ngay cả khi không một ai đúng. Sai là sai, ngay cả khi tất cả mọi người đều sai”[36]Thế nhưng, nói sự thật trong đồng hành mà thiếu bác ái thì có thể là áp đặt hay “chụp mũ”, hoặc “lạm quyền” đối với chủng sinh.

Vì thế, trong bước 4 này, khi đồng hành, nhà đào tạo có thể đưa ra cho chủng sinh những phản hồi của mình về những vấn đề mà chủng sinh trình bày, nhưng phải trong sự thật và tình bác ái. Nhà đào tạo nên nói ra một cách thẳng thắn những điều mà chủng sinh cần phải thay đổi để trưởng thành hơn về mặt nhân bản. Và cũng chính trong bước 4 này, chủng sinh cũng có quyền đưa ra những phản hồi của mình một cách chân thành và khiêm tốn trước nhà đào tạo.[37] Tuy nhiên, việc phản hồi trong bước 4 này phải có tính đào tạo và giúp chủng sinh thật sự trưởng thành hơn.

e. Bước 5: Hướng dẫn và đồng trách nhiệm

Chân phước Fulton Sheen đã từng đưa ra một khái niệm sâu sắc về tự do đích thực, khi ngài nói rằng: “Khái niệm đích thực về tự do là: ‘Tự do là quyền làm những gì chúng ta phải làm, và từ phải làm ở đây chính là mục tiêu, mục đích, luân lý và luật của Thiên Chúa’” [38] Khái niệm này có mối liên hệ chặt chẽ với định hướng của Ratio 2016 khi nói về chủng sinh trong tiến trình tự đào tạo bản thân: chủng sinh chính là chủ thể (protagonist) tích cực trong việc đào tạo chính mình. Vì thế, họ không phải là những người thụ động hay đứng bên ngoài tiến trình này. Hơn ai hết, họ được mời gọi tham gia một cách tự do và chịu trách nhiệm chính trong hành trình trưởng thành của bản thân.[39] Nếu tự do đích thực là khả năng tự nguyện lựa chọn và thực hiện điều thiện theo chân lý, mục đích và luật Thiên Chúa, thì việc chủng sinh chủ động đảm nhận trách nhiệm đào tạo chính mình là sự thể hiện cụ thể tự do ấy trong hành trình trưởng thành nhân bản cũng như trưởng thành trong ơn gọi.

Vì vậy, bước 5 này là bước mà sau khi nhận diện vấn đề, nhà đào tạo không làm thay cho chủng sinh, nhưng hướng dẫn và đồng hành với chủng sinh xây dựng một lộ trình cụ thể để đối diện với những vấn đề ấy, với những gợi ý: Điều gì cần thay đổi? Thay đổi bằng cách nào? Đâu là những phương thế thích hợp? Dấu hiệu nào cho thấy sự trưởng thành đang diễn ra?... Chính chủng sinh là người quyết định hành động hay không hành động. Đây cũng chính là đồng trách nhiệm, khi nhà đào tạo có trách nhiệm đồng hành và chủng sinh có trách nhiệm đáp lại.

f. Bước 6: Quan sát và lượng giá

Đào tạo nhân bản là một tiến trình lâu dài. Sự trưởng thành nhân bản đích thực không chỉ được nhận ra qua một quyết tâm nhất thời, một suy nghĩ chín chắn hay một hành vi cư xử đúng mực, nhưng qua việc chủng sinh hiểu rõ thế nào là một lối sống của linh mục đích thực, trong khiêm hạ và phục vụ.[40] Đồng thời, họ có được những thái độ tích cực, những thói quen tốt và những nhân đức nhân bản vững bền.

Chính vì thế, bước 6 này là bước mà nhà đào tạo cùng chủng sinh quan sát và lượng giá sự trưởng thành nhân bản của chính bản thân chủng sinh, qua ba tiêu chí về sự trao ban được gợi hứng từ tư tưởng của Chân phước Fulton Sheen về đức ái: “Hãy cho tôi xem đôi tay của bạn. Chúng có mang những vết sẹo vì trao ban không? Có vết sẹo nào do bạn hy sinh chính mình vì người khác không? Hãy cho tôi xem đôi chân của bạn. Bạn có từng dấn thân đi làm điều thiện không? Bạn có mang thương tích nào vì phục vụ không? Hãy cho tôi xem trái tim của bạn. Bạn có dành một chỗ trong trái tim mình cho tình yêu Thiên Chúa không?”[41]Các tiêu chí này được minh họa qua hình ảnh sau đây:

Ba tiêu chí quan sát và lượng giá[42]

3. Điều kiện áp dụng mô hình “Đồng hành sáu bước” trong chủng viện

Mô hình “Đồng hành sáu bước” với chủng sinh không phải là một mô hình gồm 6 bước rời rạc, nhưng là một lộ trình mang tính liên kết và liên tục nhằm giúp chủng sinh trưởng thành nhân bản một cách vững chắc. Tuy nhiên, mô hình này chỉ có thể phát huy hiệu quả tốt nhất khi được áp dụng tại chủng viện và đáp ứng bốn điều kiện sau:

a. Phân biệt rõ ràng “Tòa trong” và “Tòa ngoài”

Sự phân biệt rõ ràng giữa “Tòa trong” và “Tòa ngoài” là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự tin tưởng trong hai bước đầu tiên của mô hình là: hiện diện và lắng nghe (bước 1 và bước 2). Những cuộc trao đổi trong Tòa giải tội và các buổi linh hướng cần được tôn trọng theo bản chất và giữ kín. Trong khi đó, những nhận xét lượng giá của các nhà đào tạo và các linh mục phụ trách đồng hành theo lớp của chủng sinh cũng cần phải tuân theo thẩm quyền và quy định tương ứng. Thật vậy, Giáo luật, điều 240 triệt 2, đã cấm không được hỏi ý kiến cha giải tội và cha linh hướng khi quyết định cho chủng sinh lãnh nhận chức thánh hoặc cho họ rời chủng viện.[43] Điều luật này giúp chủng sinh tin tưởng và thành thật nhìn nhận bản thân mình. Đồng thời, sự phân biệt rõ ràng giữa “Tòa trong” và “Tòa ngoài” cũng là nền tảng đáng tin cậy cho việc phân định và phản hồi (bước 3 và bước 4). Nếu chủng viện nào vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng này hay vẫn còn “nhập nhằng” giữa “Tòa ngoài” và “Tòa trong” thì việc áp dụng mô hình này sẽ gặp trở ngại nghiêm trọng và khó đạt được hiệu quả mong muốn.

b. Đào tạo thường xuyên cho các nhà đào tạo

Mô hình “Đồng hành sáu bước” với chủng sinh đòi hỏi nhà đào tạo phải hiện diện toàn thời gian, lắng nghe không thành kiến, phân định thận trọng, phản hồi trong đức ái, hướng dẫn có phương pháp và lượng giá khách quan. Vì thế, các nhà đào tạo cần thường xuyên học hỏi về tâm lý, sư phạm, kĩ năng đối thoại, hiểu biết sâu sắc về chương trình đào tạo linh mục của Giáo hội, thấm nhuần linh đạo linh mục,… Đồng thời, họ cũng phải thường xuyên trao đổi chuyên môn với nhau để thống nhất định hướng và tạo sự đồng thuận trong việc triển khai chương trình đào tạo nhằm tránh sự áp đặt hoặc đánh giá chủng sinh theo cảm tính. Bởi vì, hiệu quả đào tạo tùy thuộc đáng kể vào sự trưởng thành về nhân bản, thiêng liêng và khả năng chuyên môn của các nhà đào tạo.[44] Do đó, nếu các nhà đào tạo chỉ hài lòng với kiến thức và khả năng chuyên môn của mình ở hiện tại, mà không chịu học hỏi hay tham gia vào các khóa đào tạo thường xuyên, thì cũng không thể nào áp dụng mô hình “Đồng hành sáu bước” này một cách hiệu quả.

c. Nhấn mạnh việc đồng hành cá nhân

Mô hình “Đồng hành sáu bước” sẽ phát huy hiệu quả hơn khi được áp dụng riêng cho từng chủng sinh. Bởi vì, mỗi chủng sinh đều có lịch sử bản thân, tính cách, động lực và tiến trình trưởng thành cá nhân khác nhau. Do đó, mô hình này cần phải được áp dụng một cách thích hợp cho từng chủng sinh riêng biệt. Điều này rất phù hợp với định hướng đào tạo toàn diện và chú trọng nhân vị của Giáo hội trong việc đào tạo linh mục.[45]

d. Xây dựng khả năng tự trưởng thành cho chủng sinh

Chủng viện và các nhà đào tạo cần tạo không gian để các chủng sinh có được khả năng tự trưởng thành, tránh làm cho chủng sinh có thái độ ỷ lại hay đợi “cầm tay chỉ việc”. Tự trưởng thành không có nghĩa là chủng sinh tự tách mình ra khỏi chương trình đào tạo, các nhà đào tạo và cộng đoàn. Trái lại, đó là việc chủng sinh ý thức và chủ động đảm nhận trách nhiệm cá nhân trong sự trưởng thành của mình về nhân bản và trong toàn bộ chương trình đào tạo, dưới tác động của ân sủng, sự hướng dẫn của các nhà đào tạo và sự đồng hành của cộng đoàn. Như thế, khi áp dụng mô hình “Đồng hành sáu bước” với chủng sinh và khi kết thúc một chu kỳ của mô hình này, chủng sinh sẽ ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về bản thân và sống trách nhiệm hơn với ơn gọi của mình.

C. KẾT LUẬN

Sự trưởng thành nhân bản của chủng sinh không thể đạt được chỉ bằng những can thiệp ngắn hạn, nhưng cần được vun đắp trong một tiến trình đào tạo dài hạn và liên tục. Tiến trình này đòi hỏi chủng sinh vừa chủ động cộng tác với ân sủng Thiên Chúa ban, vừa biết khiêm tốn đón nhận sự hướng dẫn – đồng hành của các nhà đào tạo và nỗ lực hết sức có thể để nhận biết và biến đổi chính mình. Nhằm giúp tiến trình trưởng thành nhân bản của chủng sinh trở nên cụ thể hơn trong đời sống chủng viện và giúp các nhà đào tạo có thể đồng hành dễ dàng hơn với chủng sinh trong tiến trình này, mô hình “Đồng hành sáu bước” với chủng sinh có thể là phương thức thích hợp. Bởi vì, mô hình này được gợi hứng từ tư tưởng về nhân bản của Chân phước Fulton Sheen và hình thành qua việc đối chiếu những tư tưởng ấy với Ratio 2016. Giá trị của mô hình chính là: qua việc đồng hành, nhà đào tạo có thể giúp chủng sinh sống trung thực hơn với bản thân, trưởng thành trong tự do và biết chịu trách nhiệm về những lựa chọn của chính mình.

Tuy nhiên, mô hình “Đồng hành sáu bước” với chủng sinh trong tiến trình trưởng thành nhân bản vẫn cần được kiểm nghiệm và điều chỉnh trong thực tiễn đào tạo ở chủng viện và chính trong việc đồng hành với chủng sinh của các nhà đào tạo dưới sự hướng dẫn của Giáo hội. Bởi vì, theo Ratio 2016, tự bản chất, việc đào tạo linh mục mang tính truyền giáo và hướng đến việc tham dự vào sứ mạng loan báo Tin mừng của Giáo hội. Tuy nhiên, sứ mạng này không tách rời việc đào tạo toàn diện và đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Vì thế, mục tiêu của việc đào tạo linh mục không chỉ là đào tạo những người có khả năng rao giảng Tin mừng, mà còn đào tạo những môn đệ truyền giáo, biết sống và thi hành sứ vụ theo gương Đức Kitô, Mục Tử Nhân Lành.[46]



[1] Fulton J. Sheen, Lift Up Your Heart: A Guide to Spiritual Peace (New York: McGraw-Hill, 1950), p.3.

[2] John Paul II, Pastores Dabo Vobis (March 25, 1992), no. 43; Congregation for the Clergy, The Gift of the Priestly Vocation: Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (December 8, 2016), nos. 44–47, 130.

[3] x. Lm. GB. Ngô Hữu Tiến, “Đồng hành với các chủng sinh trong chủng viện theo Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (2016),” Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngày 7 tháng 5 năm 2025, mục 1.1 “Nền tảng nhân học,” https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dong-hanh-voi-cac-chung-sinh-trong-chung-vien-theo-ratio-fundamentalis-institutionis-sacerdotalis-2016.

[4] x. Francis, Christus Vivit, (March 25, 2019), no. 291; Ratio 2016, nos. 61-62.

[5] x. Ratio 2016, nos. 44-47.

[6] x. Ratio 2016, no. 45.

[7] x. Francis, Christus Vivit, nos. 293, 295.

[8] x. Ratio 2016, no. 120.

[9] x. Fulton J. Sheen, The Wisdom of Fulton Sheen (New York: McGraw-Hill Book Company, 1963), trích lại trong “Maria Ngọc Tỷ, ‘Đấng Đáng kính Fulton John Sheen (1895–1979): Nhà truyền giáo bằng truyền thông,’” Tổng Giáo phận Sài Gòn, May 19, 2023”, truy cập ngày 2 tháng 10, 2026, https://tgpsaigon.net/bai-viet/dang-dang-kinh-fulton-john-sheen-1895-1979-nha-truyen-giao-bang-truyen-thong-68806.

[10] x. John Paul II, Pastores Dabo Vobis, no. 43

[11] Ratio 2016, no. 89.

[12] Ratio 2016, no. 93.

[13] x. Ratio 2016, nos. 93-95.

[14] x. Ratio 2016, no. 94b.

[15] John Paul II, Pastores Dabo Vobis, no. 29d.

[16] x. Troy Kassien, “The Unknown Fulton Sheen: Philosopher of Education,” Church Life Journal, September 20, 2019, https://churchlifejournal.nd.edu/articles/the-philosophy-education-of-archbishop-fulton-j-sheen/

[17] Fulton J. Sheen, Way to Happiness (Garden City, NY: Garden City Books, 1949), 190.

[18] x. Fulton J. Sheen, Old Errors and New Labels (New York: Alba House, 2007), 169.

[19] Troy Kassien, “The Unknown Fulton Sheen: Philosopher of Education”.

[20] x. Fulton J. Sheen, Peace of Soul (New York: Whittlesey House, McGraw-Hill Book Company, 1949), 1, 70-72, 79.

[21] x. Fulton J. Sheen, Peace of Soul, 6.

[22] x. Sheen, Peace of Soul, 69–71.

[23] x. Sheen, Peace of Soul, 74–76, 112–115.

[24] x. Sheen, Peace of Soul, 255–56, 287–88.

[25] x. Sheen, Peace of Soul, 125–26, 130–31.

[26] Fulton J. Sheen, Three to Get Married (New York: Appleton-Century-Crofts, 1951), 5.

[27] Fulton J. Sheen, The Priest Is Not His Own (Ravenio Books, 2022), chap. 1, Google Books.

[28] Hình ảnh có sử dụng Gemini AI.

[29] x. Fulton J. Sheen, Life Is Worth Living (Mumbai: St. Pauls, 2013), 184–86; x. Justine John Dyikuk, “Degrees of Intimacy in Modern Civilization: An Investigation of Fulton Sheen’s Thesis on Radio, Television and Personal Appearance,” Annals of Journalism and Mass Communication 1, no. 1 (2019): 27–28, https://sryahwapublications.com/annals-of-journalism-and-mass-communication/pdf/v1-i1/4.pdf.

[30] x. Ratio 2016, no. 49.

[31] Fulton J. Sheen, The Eternal Galilean (Washington, DC: National Council of Catholic Men, 1934), 86, https://distantreader.org/stacks/pamphlets/pdf/005195460.pdf.

[32] x. Ratio 2016, no. 120.

[33] x. Francis, Christus Vivit, nos. 291-294.

[34] x. Lm. Giuse Nguyễn Trọng Sơn, “Đào tạo những mục tử biết phân định theo Thánh Thần,” Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngày 7 tháng 10 năm 2024, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dao-tao-nhung-muc-tu-biet-phan-dinh-theo-thanh-than.

[35] x. Troy Kassien, “The Unknown Fulton Sheen: Philosopher of Education”.

[36] Fulton J. Sheen, “A Plea for Intolerance,” in Old Errors and New Labels (New York: The Century Co., 1931), 81–96; trích lại trong “Fulton Sheen: Tolerance, Intolerance, and Truth,” Crossroads Initiative, September 17, 2026, https://www.crossroadsinitiative.com/media/articles/fulton-sheen-tolerance-intolerance-truth/.

[37] x. Ratio 2016, nos. 45-47, 130.

[38] Fulton J. Sheen, “The Annunciation: When Freedom and Love Were One,” Mother of All Peoples, March 25, 2023, trích lại từ Fulton J. Sheen, The World’s First Love: Mary, Mother of God (Ignatius Press, 1996), https://www.motherofallpeoples.com/post/the-annunciation-when-freedom-and-love-were-one.

[39] x. Ratio 2016, nos. 53, 130.

[40] x. Ratio 2016, no. 130.

[41] Michael R. Heinlein, “How Archbishop Sheen Embodied the 7 Key Virtues,” Catholic Review, February 14, 2026, https://catholicreview.org/how-archbishop-sheen-embodied-the-7-key-virtues/.

[42] Hình ảnh có sử dụng Gemini AI.

[43] x. Bộ Giáo luật 1983, số 240 §2.

[44] x. John Paul II, Pastores Dabo Vobis, no. 66.

[45] x. John Paul II, Pastores Dabo Vobis, nos. 43, 66; x. Lm. GB. Ngô Hữu Tiến, “Đồng hành với các chủng sinh trong chủng viện.”

[46] x. Ratio 2016, Introduction, sec. 3.


CHIA SẺ BÀI VIẾT