Header

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Lễ Lá - Năm B

26/03/2021
1.5K
CHÚA NHẬT LỄ LÁ – NĂM B Cả bốn Tin Mừng đều tường thuật lại việc Chúa Giêsu vào thành Gìêrusalem.
CHÚA NHẬT LỄ LÁ – NĂM B

Kiệu lá: Mc 11, 1- 10

Thánh Lễ: Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mc 14,1 -15,47
  

Học viện Piô Giáo hoàng  - Chú Giải

KIEULA
 CHÚA GIÊSU VÀO THÀNH GIÊRUSALEM

(Mc 11,1-10)

CÂU HỎI GỢI Ý

1.Trong đoạn văn này, có sự ráp nối hai trình thuật. Đó là hai trình thuật nào? 

2.Trên phương diện văn thể, Mc 11,1-10 tương tự với bản văn nào trong Mc? Sự tương tự này nói lên điều chi?

3.Tại sao ở c.3, Chúa Giêsu lại gọi mình là Chúa? Trong Mc,  Người có tự xưng như thế chỗ nào nữa không?

4.Câu 10 cho thấy tác giả muốn nói đến quan niệm thiên sai nào?

5. Bản văn này tương quan ra sao với trình thuật Khổ nạn?

(Trước tiên, xin độc giả vui lòng xem phần nhập đề tổng quát vào bốn trình thuật Tin mừng trong Chú giải Phúc âm A tập 1 trang 287)

I.CÁC NGUỒN CỦA MỘT NGÔN NGỮ

II. TRÌNH THUẬT MÁRRCÔ 11,1-10


1. Các phản ứng thuộc về cách biên soạn và sự mạch lạc của diễn từ.

Trong Mc 11,1-10, dễ dàng nhận thấy có sự ráp nối hai trình thuật (xem ý kiến của V.Taylor, The Gospel according to St Mark. London, 1963, tr.451) : một đàng, Chúa Giêsu sai các môn đồ đi tìm lừa cho người cưỡi (cc. 1-6) ; đàng khác, Người được dân chúng hoan hô (cc.7-10). Việc đối chiếu phần thứ nhất trong hai phần này (11, 1-6) với trình thuật "Dọn lễ Vượt qua" (14, 12-16) xác nhận sự phân chia vừa nói đồng thời cho thấy sự mạch lạc của toàn bộ diễn từ Márcô, và từ đó, tính cách duy nhất của đoạn Mc 11,1-10. Bảng sau đây làm nổi bật sự tương đồng hiển nhiên giữa hai trình thuật, nhưng nhất là gợi lên những mối liên quan sâu xa nối kết việc vào thành Giêrusalem với trình thuật Khổ nạn, mà bữa Tiệc ly cuối cùng với những chuẩn bị đều là thành phần trong đó. (E.Trocmé, La formation de l’evangile selotl Mc, Paris, 1963, tr. 178, có viết: “Tính cách song song khá hiển nhiên giữa Mc 11,1-6 và 14, 12-16 không có nghĩa là bản văn thư nhất chuẩn bị cho bản văn thứ hai, nhưng dòng ra cho thấy là cùng một chủ đề đã được sử dụng bởi hai truyền thống độc lập, mà một đã nằm trong bản Mc nguyên thủy, một được dẫn vào trình thuật Khổ nạn ngay từ đầu, và trình thuật này sau cùng đã được người biên soạn bản Mc chính lục thu thập).


 
Mc 11,1-6  Mc 14,12-16
Khi 

họ tiến gần Giêrusalem…

Người sai hai môn đồ

(apostellei duo tôn mathêtôn)
và bảo họ :

Hãy đến làng trước mặt

các ngươi (hypagete eis . .)

Và các ngươi sẽ gặp

Một con lùa con bị cột…

Hãy cởi nó ra và đem đi.

Và nếu có ai nói với các ngươi….

Hãy trả lời : Chúa

(ho Kyrios) cần dùng nó

Họ ra đi và đã gặp một lừa con
(kai heuron)

Họ đáp lại như Chúa Giêsu
đã nói

(kathôs eipen)

và người ta đã để mặc họ (làm)
    Ngày thứ nhất tuần bánh không men

Thầy muốn chúng tôi đi.

Người sai hai môn đồ

(apostellei duo tôn mathêtôn)

và bảo họ :

Hãy vào thành

(hypagete eis . .)

và sẽ đến gặp các ngươi

một người đội vò nước

Các ngươi hãy theo người ấy.

và ông ta vào đâu 

thì hãy nói : Thầy

(ho Didaskalos) nói….

Môn đồ ra đi…

Và đã gặp.

(kai heuron)

như Người đã nói với họ 1
đã nói

(kathôs eipen)

và họ đã dọn lễ Vượt qua.

 

  
Trong hai bản văn, ý Chúa Giêsu muốn xếp đặt tất cả theo chủ đích riêng của Người thật là rõ rệt. Cho dù mầu nhiệm bao trùm tương lai gần của Đấng Messia, mà trong đó các môn đồ được đưa vào, là thế nào chăng nữa, thì các mệnh lệnh được trao ban cho họ vẫn rành rẽ, chính xác.

2. Vương quốc-của Đấng chịu đóng đinh.

Việc đối chiếu trên đây đã làm lộ ra một nét rất đáng lưu ý: dù nằm trong cả ba trình thuật Nhất lãm, ước hiệu "Chúa" (hay Chủ, Ngài) (ho Kyrios) trong Mc đây vẫn nổi bật rõ ràng nhờ được đặt đối nghịch với tước hiệu "Thầy" (ho Didaskalos) trong 14,14. 

Đây là trường hợp duy nhất trong Tin Mừng thứ hai : Chúa Giêsu nói về mình bằng cách tự xưng là "Chúa" y như nhiều lần đã tự xưng là "Con Người". Vào thời Tân ước, tước hiệu "Chúa" (Chủ, Ngài) rất được yêu chuộng: hoặc như là từ ngữ lịch sự thông thường (ở hô cách vocatif: mai trong tiếng Aram, kyrie trong tiếng Hy lạp) ; hoặc như là một tước hiệu danh dự, dành riêng cho một vài nhân vật, đặc biệt cho các tiến sĩ luật (tương đương với rabbi); hoặc dể chỉ vua chúa (Marana, ho Kynos). Trong bản 70, Kyrios diễn tả Giavê.  L. Cerfaux đã cho ta một nhận xét sâu sắc về đoạn này của Mc.

Ông viết: "Thánh Márcô không bao giờ dùng Kyrios theo nghĩa rabbi. Ngay cả công thức lịch sự (thưa Ngài) rất năng gặp nơi các tác giả Tin Mừng khác, cũng chỉ xuất hiện một lần dưới ngòi bút của ông (7,28) như một thứ lapsus calami (lỡ bút) nhưng quá tự nhiên đến nỗi phải nhận rằng thánh Márcô có những chỗ úp mở cố ý. Sự chú ý lại càng gia tăng hơn nữa, khi thình lình ( 11,3) một chữ Kyrios long trọng, dù bí nhiệm, được đặt trên môi Chúa Giêsu. Chắc hẳn người ta muốn tung hô Cứu Chúa là Vua" (Le titre ét la dignité royale de Jésus, trong Gecueil Lucien Cerfaux, t.I, Gembloux, 1954, tr. 40). 

Do đó, trong tư tưởng Mc, chú lừa con mà Chúa Giêsu sai đi tìm rất có thể là con thú để cưỡi của vua thiên sai mà Dacaria đã dự đoán. Trong giả thuyết này, khi Chúa Giêsu đòi một lừa con bị cột (phân từ "bị cột" (dedemenon) trong Mc 11,2 có thể ám chỉ St 49,11 : "Ngài cột (desmenôn) con lừa vào cây nho") là chưa hề có ai cưỡi", có lẽ Người nhắm đến"con lừa tơ" (trong bản 70, pôlon neon) của Dcr 9,9 (x. F.Gils, Jésus tophète d'après les évangiles synoptiques, Louv-ain, 1957, tr 158). Và việc tung hô được Mc 1 1,7-10 mô tả có lẽ chỉ là sự thực hiện sấm ngôn Cựu ước này, sấm ngôn mà Chúa Giêsu trực tiếp áp dụng cho mình trong Mc 1 1,2-6. Như thế sự duy nhất của hai phần làm nên trình thuật tiến vào thành Giêrusalem của Mc xem ra được xác nhận hơn. 

“Chúc tụng vương quốc đến từ Đavít cha chúng ta" (11, 10a). Câu này của Mc song đối với "Con Đavít" trong Mt 21,9, "Người là Vua" trong Lc 19,38 và "Vua Israel" trong Ga 2,13. Mỗi một trong bốn công thức này, được thêm vào như là yếu tố hiện thực hóa thánh vịnh 118,25-26, một cách nào đó là dấu chỉ nói lên quan niệm thần học của thánh sử: với danh nghĩa ấy, công thức rõ ràng định hướng cho việc giải thích toàn bộ trình thuật. Chắc hẳn, trong Mc, câu nói xem ra hơi kỳ lạ: vì ngoại trừ một đoạn không mấy chắc chắn của sách Công vụ sứ đồ (4,25), Đavít chẳng bao giờ được gọi là "Cha chúng tôi cả. Một danh xưng như thế chỉ được dành cho các tổ phụ, nhất là cho Abraham. Tuy nhiên, với Lagrange, ta có thể xem từ ngữ này như "phù hợp với niềm mong đợi của dân Do thái",  vì "loại hy vọng thiên sai của người bình dân là việc tái lập vương quyền của Đavít" (x. M.-J. Lagrange, l’vangile se lon saint Marc, Paris,1942, tr.291 ). Trong bản dịch tại Palestin của kinh Shemoneh Esreh (18 lời chúc tụng). bản chính thức và tiêu biểu nhất của các kinh nguyện Do thái, người ta đọc thấy: "Lạy Giavê Thiên Chúa chúng con, xin hãy xót thương….Israel dân Ngài, xót thương Giêrusalem thành đô của Ngài, xót thương Sion . . . và xót thương triều đại của nhà Đavít, Đấng thánh Messia thi hành công lý của Ngài". Ta cũng hãy trưng thêm một đoạn trích dẫn từ các ca vịnh của Salomon, một tác phẩm có từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên : "Lạy Chúa, xin hãy nhìn xem và hãy cho chỗi dậy giữa chúng vì vua của chúng, con Đavít . . . để Người thống trị trên Israel tôi tớ của Ngài . . . Bấy giờ Người sẽ tụ tập dân thánh và dẫn dắt họ với công bình (XVII).

Thành thử việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem nhằm đúng trong đường hướng của lời hứa "về Đavít" đã từng được ban ra và lặp đi lặp lại cho Israel. Nhưng cần phải thuộc về nhóm nhỏ còn sót" của Israel và san sẻ đức tin của nhóm  này để quán triệt những gì sắp xảy ra trong "kinh thành của" đức Đại vương" (Tv 48,3), những gì phần biệt lời tiên tri với việc thể hiện lời tiên tri đó.

Khổ nạn là biến cố lớn lao qua đó Chúa Giêsu chấm dứt mọi việc lặp đi lặp lại (lời hứa) cách vô ích để mãi mãi bảo đảm sự trung thành của con người với lời Thiên Chúa, cách khác biệt với lời tiên tri. Từ đó vai trò đích thực của việc tiến vào Giêrusalem chính là đưa Đấng Messia vào thành đô của Người hầu chịu tử nạn ở đấy. Sự ăn khớp về văn thể và về cách biên soạn giữa Mc 11 và Mc 14, mà chúng ta đã khá lưu ý trên kia, cho thấy mục tiêu giáo huấn và thần học này của thánh sử thứ hai.

André Paul, Assemblées du Seigneur 19

trang 12-15.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Dân chúng nô nức reo hò mừng đón Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Họ là những kẻ đã được chữa lành bệnh, và được Người cho ăn no thỏa mới ngày nào đây. Lời hoan hô của họ rút ra từ Tv 117-118, một bài hát ngày Lễ Lều ca ngợi, cảm tạ những ơn lành Thiên Chúa đã thông ban cho Israel. Ở đây người ta ca ngợi Chúa Giêsu vì hy vọng người đến cho họ ăn no thỏa, cứu chữa họ khỏi bệnh hoạn tật nguyền và nhất là tái lập triều đại vàng son của Đavít. Họ là những kẻ mong chờ vị Cứu Thế theo mối lợi, theo tham vọng riêng. Các môn đồ cũng phấn khởi hân hoan vì cái ngày họ nôn nóng mong chờ dường như sắp đến: họ thầm mơ sẽ được ngồi bên hữu, bên tả Thầy. Còn nhà cầm quyền thì sửng sốt kinh ngạc. Lại chấn động, họ nhốn nháo cả lên: "phải chăng tên Giêsu đầy ma thuật kia bắt dầu cho nổ bùng cuộc cách mạng ?".

2. Nhưng từ trong thái độ, cách đi đứng, Chúa Giêsu đã tỏ ra một ý muốn khác hẳn. Thay vì cưỡi ngựa chiến với quân đội tiên hô hậu ủng, Người chỉ cưỡi lừa con như vị vua khiêm tốn, nhân liền mà Dacaria 9,9 đã tiên báo. Người thuận để cho đoàn lũ hoan hô. Nhưng việc Người tiến vào Giêrusalem không theo như kiểu họ tính toán. Quyền năng của Người là để phục vụ chứ không để cai trị. Người không muốn ngự trong cung điện nhưng muốn hiện diện trong tâm hồn mỗi người . . . để thông cảm với tất cả những vui buồn đau xót của kiếp nhân sinh. Con đường Người phải đi qua để đến với nhân loại là con đường gian khổ với cái chết trên thập giá.

3. Từ xưa, trong một thánh vịnh, vua Đavít hầu như đã diễn tả trước cảnh bị nhạo báng đau khổ và hấp hối của Chúa Kitô trên núi Sọ (Đáp ca). Trong một thị kiến trước 7,8 trăm năm, tiên tri Isaia cũng đã tiên báo phần nào những sỉ nhục, tra tấn, cười nhạo trong nhà thượng tế cai pha và trong dinh tổng trấn (Bài đọc 1). Vì là chương trình cứu thế, là thánh ý Chúa Cha, nên Chúa Kitô đã chấp nhận từ bỏ chính mình, vâng lời cho đến chết trên thập giá (Bài đọc 2). Cuộc Khổ nạn và cái chết đau thương của Người (được tả lại thực rõ ràng, sống động và tỉ mỉ do Mc trong Tin mừng thứ hai (Bài Thương khó). Tuy nhiên cuộc Khổ nạn và cái chết tức tưởi ấy lại có  một kết thúc huy hoàng: vì nhờ đó toàn thể loài người được ơn cứu độ, còn Chúa Kitô thì không phải hổ thẹn như Isaia đã tiên báo, mà được Thiên Chúa cho phục sinh, tôn vinh và tặng ban danh hiệu là Chúa (Bài đọc 2). 

4. Đời sống tùng phục Chúa Cha cho đến chết của Chúa Kitô vừa là tấm gương vừa là con đường phải theo. Nếu kết thúc cuộc đời đau khổ và cái chết thảm thương của Người là sự sống lại và tôn vinh, thì kết cuộc nếp sống tuân theo thánh ý Chúa của Kitô hữu cũng sẽ là sống lại vinh hiển và sự sống vĩnh cửu, và được tặng một danh hiệu chỉ mình kẻ ấy biết (x Kh 2, 17 ; 3, 12)

 
BÀI THUƠNG KHÓ

Thánh Lễ: Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mc 14,1 -15,47

CÁC TRÌNH THUẬT KHỔ NẠN TRONG

TIN MỪNG NHẤT LÃM

 
(xin xem thêm Chú Giải phúc âm Chúa Nhật năm A)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Tại sao trình thuật Khổ nạn chiếm một chỗ lớn trong các Tin mừng? Không có nhiều chuyện tích ctrc đáng nói hơn biến cố bi thương ấy sao? Hay là các thánh sử nổi máu bi kịch gia?

2. So sánh với các giai thoại khác trọng đại Chúa Giêsu, trình thuật Khổ nạn có những đặc tính nào?

3. Thử nêu lên đặc tính của mỗi trình thuật Khổ nạn !

4. Cuộc Khổ nạn đúng nghĩa có thể phân chia làm mấy phần 5.Trong màn Chúa Giêsu bị bắt, Mc có lối hành văn ra sao (Mc 14,43-52)? Giải thích hay chỉ đưa ra sự kiện? (so sánh - với Mt 26,47-56). Còn Lc thì mô tả diễn biến thế nào (Lc 22,47-53) ?

6. Trong phiên tòa Do thái, tại sao Mc (14,53-72) trình bày quá nhiều tương phản? Mt soi sáng tương phản bằng yếu tố nào (Mt 26,57-27,10) ? Còn Lc (22,54-71) tại sao đặt việc Phêrô chối Thầy lên đầu và không ghi lại một công thức kết án nào cả (x. 22,71 ; so sánh với Mt 26,66; Mc 14,64) ?

7.Trong phiên tòa Rôma, Mc (15,1-15) trình bày một sự nghịch thường nào (x. 15,9.12) ? Nghịch lý nào có được Mt (27,11-26) diễn tả cách khác không (x. 27,l7.22)? Còn Lc (23, 1-25) thì thêm giai thoại nào đặc biệt và muốn nói lên ý tưởng chủ chốt nào (x. 23,1 3-25) ?

8. Trong màn khổ hình thập giá, Mc (15,16-41) có dụng ý gì khi đưa ra hai dấu chỉ sau lúc Chúa Giêsu chết (15,38-39) ?  Hai dấu chỉ này nói lên điều chi liên quan tới Chúa Giêsu? Nơi Mt (27,27-56) những dấu chỉ ấy (và thêm dấu chỉ đất động, đá mẻ, mồ mả mở ra) có cùng ý nghĩa như nơi Mc không? Còn Lc (23,26-49) thì tại sao thêm cảnh trời u ám, người trộm lành và đoàn lũ đấm ngực ăn năn?

9. Trong cảnh an táng, mỗi thánh sử có những gì đặc sắc?  

10. Ba thánh sử Nhất lãm có cho rằng thời đại mới chỉ bắt đầu lúc Chúa Giêsu phục sinh không ? Hay đã bắt đầu từ lúc Chúa Giêsu chết ? Nhờ dấu chứng nào mà ta biết được? 

Khi muốn rao giảng về cuộc Khổ nạn, thường rất dễ bị cám dỗ xem các trình thuật trong Tin mừng như những kho tài liệu muốn sử dụng ra sao tùy ý: chỉ cần chọn lấy một chi tiết trong Mátthêô, một chi tiết khác trong Luca, Mátcô hay Gioan, và có được một trình thuật đầy đủ hơn, phong phú hơn. Thực ra làm như  thế rất có thể sinh ra tai hại là bỏ mất phần quý giá nhất trong chất liệu Tin mừng. Khoa rao giảng đúng đắn không coi trọng sự kiện cụ thể cho bằng ý nghĩa tôn giáo của sự kiện. Thế mà ý nghĩa chỉ xuất hiện trong toàn bộ kết cấu văn bản. Tách một chi tiết ra khỏi văn mạch của nó để ghép vào một trình thuật khác là làm cho nó mất ý nghĩa riêng và làm rối loạn hướng nhìn của trình thuật sau. Thành thử tốt hơn nên tôn trọng đường hướng riêng của mỗi trình thuật Tin Mừng, và muốn thấy rõ đường hướng riêng đó, cần khảo sát kỹ lưỡng lối biên soạn, kết cấu văn chương của mọi trình thuật.

Không kể giá trị giáo thuyết và mục vụ, lối khảo sát nói trên có lợi điểm là phù hợp với một khuynh hướng hiện tại của khoa chú giải. Thật vậy, ngày nay các nhà chú giải không còn chỉ phân tích theo phương pháp văn hình sử nữa (rormgeschichte), tức xem các Tin mừng như những sưu tập góp nhặt một số chất liệu lưu truyền cần cược phân dạng và xếp loại. Nhưng càng ngày họ càng chú ý nhiều hơn đến lối biên soạn toàn bộ mỗi Tin mừng, và tìm cách xác định những đường nét chủ yếu của mỗi cuốn. Chúng tốt sẽ áp dụng cách khảo sát này cho các trình thuật Nhất lãm về cuộc Khổ nạn, để soi sáng chúng từ bên trong. (Bài nghiên cứu về cơ cấu và thần học của các trình thuật Khổ nạn này chỉ giới hạn ở cuộc Khổ nạn đúng nghĩa, tức là từ vây bắt đến an táng (về việc thiết lập phép Thánh Thể, xin xem Assemblées du Seigneur, loạt 2, số 20: La Cène du Seigneur). Nó lấy lại, với vài thay  đổi, một bài báo đăng trong Nouvelle Revue Théologique 99

(1967), tr. 135-163 , muốn nghiên cứu sâu rộng hơn, xin xem các bài chú giải và mục Passion trong Supplément au  Dictionnaire de la 81ble, t.VI, c.1419-1492 (phát hành năm 1960, do X.Léon-dufour soạn). Cũng xin xem: P.Benoit,  Passion ét Résurrection du Seigneur (Lire la Bible 6) Paris,  1966)

I. ĐƯỜNG HƯỚNG CHUNG

1. Đau khổ và vinh quang.

Một nhận xét tổng quát cần được nhấn mạnh trước : trong mỗi Tin mừng, trình thuật cuộc Khổ nạn chiếm một chỗ quan trọng và có phần nào quá đáng. Chúng ta đã quá quen nên không còn ngạc nhiên nữa. Nhưng đây chẳng phải là việc dĩ   nhiên. Thật vậy, phải ghi nhận rằng các Tin mừng đã được biên soạn sau khi Chúa Kitô sống lại do những người đang sống trong ánh sáng Phục sinh và ý thức rằng trước tiên mình là những "chứng nhân của Phục sinh" (Cv 1,22; 3,15 v.v. . . ; Dcr 15,14; Rm 10,9). Do đó, đáng lẽ những cảnh đau thương của cuộc Khổ nạn không được chiếm chỗ nổi bật như vậy,  mà chỉ cần vài đường nét sơ sài, để những chỗ cho những khía cạnh "tích cực" của cuộc đời Chúa Giêsu. Trong những năm hoạt động công khai, nào bao phép lạ báo trước cuộc chiến thắng sự chết, nào thành công nơi quần chúng, nào giáo huấn trong sáng và đầy uy quyền, nào cách thức tổ chức nhóm đồ đệ rồi, đàng khác, những cuộc hiện ra sau khi sống lại và các quyền hành trao cho Hội thánh: đó là những yếu tố đáng lẽ phải được kể là quan trọng và quyết định chứ! Còn cuộc Khổ nạn thì có thể cho rút vào bóng tối như là một màn phụ diễn xui xẻo mà, nhờ ơn Chúa, đã không có hậu quả lâu bền. 

Đó là đương hướng tự nhiên của quả tim con người : mau mắn trốn tránh thực tế phũ phàng để ẩn thân vào một thế giới lý tưởng.

Thật ra, ánh sáng Phục sinh đã không khuyến khích tôi nhìn trên đây, đã không đưa đến một tôn giáo tránh né, đã chẳng hề bịt mắt ngươi Kitô hữu trước những cảnh đau thương của cuộc đời Chúa Giêsu; trái lại, đã thúc đẩy họ đề cao giá trị của toàn bộ cuộc sống Cứu Chúa của họ, đặc biệt là những khía cạnh dễ gây hoang mang nhất : mâu thuẫn và (đau khổ). Giữa Khổ nạn và phục sinh, trí khôn nhân loại thấy trước tiên một sự tương phản: Khổ nạn là thất bại, phục sinh là chiến thắng, xóa bỏ thất bại đó. Khổ nạn là nhục nhã, Phục sinh là vinh quang. Nhưng đức tin Kitô giáo không dừng lại nơi sự tương phản này. Anh sáng Phục sinh chiếu soi Khổ nạn cách mãnh liệt, khiến Khổ nạn và phục sinh trở nên một, bất khả phân ly. Thay vì một sự đứt đoạn, ta thấy buộc mối liên hệ mật thiết : là thành quả của Khổ nạn, vinh quang của Đấng  Phục sinh làm nổi bật giá trị cuộc hy sinh của Người. Vinh  quang cho thấy Khổ nạn thực ra chẳng phải là thất bại, mà là một cuộc giao tranh thắng lợi, thực hiện chương trình của Thiên Chúa. Do đó, người Kitô hữu đã xem chính cuộc Khổ  nạn như là một nguồn sáng và một kho tàng. Thay vì xóa mờ  thắng kỷ niệm đau thương, họ đã thiết tha với chúng và đào sâu chúng. Bằng chứng không thể chối cãi là chỗ đứng quan  trọng về phẩm cũng như về lượng của các trình thuật trong Tin mừng.

Sự lưu tâm đến cuộc Khổ nạn này đặc trưng mặc khải của Chúa Kitô và xác nhận mặc khải do bởi Thiên Chúa mà đến. Sứ điệp Kitô giáo chẳng phải là một huyền thoại được tạo ra để giúp quên lãng thực tại và đưa chúng ta đến những mơ mộng hư ảo. Thiên Chúa không che dấu các thực tại của cuộc đời, cho dẫu các thực tại đó nặng nề đến đâu chăng nữa. Ngài làm cho chúng trở thành có giá trị. Ngài không giúp ta lối thoát chung. Ngài dạy ta bám chặt vào đó hết mình, nhận  ở giá trị của chúng, tìm hiểu kỹ càng và rút ra bài học bổ ích.  Anh sáng phục sinh mặc khải giá trị của Khổ nạn và qua đó làm gia tăng giá trị cuộc sống thực tế của ta. 

2. Cấu tạo trình thuật.

Một nhận xét thứ hai củng cố và xác định nhận xét thứ nhất : dáng vẻ của trình thuật Khổ nạn khác hẳn với dáng vẻ của phần còn lại trong Tin mừng. Trong khi cuộc đời công khai gồm những giai thoại dễ tách rời nhau, thì cuộc Khổ nạn làm thành một toàn bộ ăn khớp và rất chặt chẽ. Đó là bằng chứng cho thấy giai đoạn này của cuộc dời Chúa Giêsu đã sớm được chú ý đặc biệt và được xem như một toàn bộ có hệ thống. 

Điều này càng sáng tỏ nếu đem so sánh các Tin mừng nhất lãm với Gioan. Ta biết rằng Tin Mừng thứ tư nói chung ở rất nhiều điểm khác biệt với Tin mừng Nhất lãm. Về sứ  vụ của Chúa Giêsu, nó cung cấp nhiều dữ kiện mà truyền thống nhất lãm không ghi lại; chẳng hạn như đề cập đến nhiều lần Chúa  Giêsu lưu trú ở Giêrusalem, khiến thay thổi hoàn toàn lược đồ cuộc đời công khai. Nhưng khi đến cuộc Khổ nạn thì các trình thuật lại phù hợp vớt nhau một cách đặc biệt: các giai thoại và bố cục chung y hệt như nhau. 

Bắt đầu thấy được kể từ Ga 11 ,47 (âm mưu hại Chtía Giêsu, xức dầu ở Bêtania, kiệu lá), sự phù hợp này lại càng rõ rệt hơn kể từ lúc bắt Chúa Giêsu ở Ghetsêmani (Ga 18, 13). Thành thử hình như trong truyền thống của Giáo hội sơ khai, đã hình thành rất sớm một trình thuật bắt đầu từ việc vây tóm Chúa Giêsu, hay ít ra một lược đồ với những đường nét chủ yếu lược đồ đầu tiên này sau đó đã được bổ sung. Đặc biệt  người ta đưa thêm vào đó những đoạn mở đầu vừa kể (âm mưu, xức dầu, kiệu lá), để soi sáng ý nghĩa của biến cố. Trong các nhóm khác nhau của các sứ đồ, việc hình thành toàn bộ đã được thực hiện một cách khác biệt, tùy theo những dữ kiện có riêng và thành phần thính giả.

Phân tích văn chương trình thuật của Mátcô, nhà chú giải hiện đại sẽ phân biệt hai yếu tố: một đàng là trình thuật cơ bản, ngắn gọn, sơ lược, văn Hy lạp khá thuần túy, một đàng là nhiều chi tiết được thêm vào sau, có vẻ sống động và cụ thể hơn (thí dụ giai thoại chàng thanh niên bỏ chạy: Mc 14,51tt; tên các con ông Simon người Cyrênê: 15,21), văn Hy lạp lẫn lộn nhiều đặc ngữ sêmita. Đây hẳn là phần đóng góp của một nhân chứng.

Kết hợp các dữ kiện này với các bằng chứng xưa, ta có thể nghĩ rằng Márcô đã dùng một trình thuật Khổ nạn lưu truyền trong Giáo hội Rôma, rồi nghe Phêrô rao giảng mà bổ túc thêm. Lối hành văn hỗn hợp này, cũng thấy được trong hai  tác giả Nhất lãm kia, cho thấy bài Thương khó chẳng phải là một công trình biên soạn hoàn toàn cá nhân, mà là một bài công bố của Giáo hội (x. Ga 21,24). Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu là kho tàng của Giáo hội, được Giáo hội trình bày cho chúng ta.

3. Cá tính của tác giả.

Tuy là tác phẩm chung, truyền thống không phải là sản phẩm bất kiểm soát của một tập thể vô tổ chức; nó căn cứ trên chứng từ các sứ đồ và phát xuất từ những môn đồ đầy đủ uy tín.

Nhưng trung thành với sứ điệp dã tiếp nhận để truyền lại không có nghĩa là không đóng góp phần riêng nào. Các chất liệu được dùng chẳng giống nhau. Đặc biệt Luca đưa vào bài Thương khó hiểu chi tiết riêng, lắm khi giống truyền thống Gioan. Mátthêô và Márcô rất gần nhau, tuy nhiên mỗi tác giả lại có những yếu tố độc đáo.

Nhưng khác biệt rõ ràng nhất là khác biệt trong viễn tượng. Cần nói rõ: không một trình thuật nào có tính cách hệ thống; chẳng bài nào giữ chặt lấy một viễn tượng mà loại trừ các viễn tượng khác. Tuy nhiên mỗi tác giả cũng có chủ ý riêng, giọng diệu riêng. Một cách sơ lược, ta có thể kể các đặc tính tùy theo tác giả như sau:

Márcô: một trình thuật có tính cách công bố Tin Mừng.

Márcô công bố việc thực hiện lạ lùng ý định của Thiên Chúa. Ông trình bày các sự kiện trong thực tế khách quan. Hành văn nhiều khi theo lối ứng khẩu làm cho trình thuật thêm sinh động. Đây là trình thuật của một nhân chứng. Márcô không sợ làm cho ta phải khó chịu ngạc nhiên, cố tình là đàng khác. Ông làm nổi bật các mâu thuẫn, nhấn mạnh điều nghịch thường : thập giá gây vấp phạm nhưng lại không kém mặc khải Con Thiên Chúa. Nơi Mc, mầu nhiệm Khổ nạn được áp đặt trên chúng ta từ bên ngoài để đưa đến việc tuyên xưng đức tin, tuân phục mầu nhiệm (Mc 15,39).

Mátthêô: một trình thuật có tính cách Giáo hội và giáo  thuyết.

Đây là "trình thuật của một buổi hội tín hữu ”. Đường hướng này hiện rõ trong lối hành văn sáng sủa, tránh ngẫu hứng, nhiều khi có vẻ lược đồ, một lối hành văn thích hợp với phụng vụ. Nhưng rõ ràng hơn nữa là trong lối trình bày sự kiện : được đức tin soi sáng, các biến cố trở thành dễ hiểu.  Mátthêô chẳng chú ý đến chi tiết cụ thể bằng Márcô, nhưng lại không bỏ cơ hội nhấn mạnh những điểm như: lời Kinh  Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu biết trước, Người có uy  quyền tối cao; đàng khác, ông cho thấy dân Israel lầm lạc theo "thủ lãnh của họ; vương quốc Thiên Chúa phải được cất đi khỏi họ để giao cho một dân tộc biết sinh hoa trái (x. 21,43). Trình thuật đưa người Kitô hữu đến chỗ hiểu biết mầu nhiệm nhờ tham dự đức tin của Giáo hội.

Luca: một trình thuật có tính cách cá nhân và huấn đức. 

Luca có nhiều chỗ tỏ ra có những bận tâm của sử gia và văn sĩ : ông tìm cách kể lại diễn tiến sự kiện thật rõ ràng và viết một trình thuật khéo léo. Nhưng chủ ý không phải là kể  chuyện cách lạnh lùng, khách quan và vô tư. Trái lại trình  thuật của ông là trình thuật của người môn đồ đang sống lại câu chuyện của Thầy mình. Cảm tình riêng được bày tỏ bằng cách xác quyết nhiều lần Chúa Giêsu vô tội, bằng cách bỏ qua những chi tiết xúc phạm hoặc tàn nhẫn. Đối vài người môn đồ. Cuộc Khổ nạn cũng là một lời kêu gọi: phải theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá. Thành thử trình thuật có tính cách cá nhân và huấn đức. Nó khơi động hay củng cố sự dấn thân của mỗi người theo gót Chúa Kitô.

Đó là những đặc điểm mà chúng ta sẽ thấy rõ hơn trong phần sau đây khi khảo sát kết cấu của trình thuật. (Đường hướng riêng biệt mà chúng ta vừa ghi nhận nơi mỗi tác giả Nhất lãm không chỉ có trong trình thuật Khổ nạn. Nhưng còn chi phối cơ cấu toàn bộ của mỗi Tin Mừng. Để tạm đưa ra một vài nhận xét, hãy nhắc lại rằng Mc là tác giả Tin Mừng của các sự kiện Ông ít ghi lại lời nói và giáo huấn Chúa Giêsu, nhưng rất chi tiết trong các (trình (thuật); đó cũng là Tin Mừng về mầu nhiệm thiên sai. Mt thì trình bày trong nhiều diễn từ lớn một giáo thuyết rất đầy đủ về Giáo hội và về Chúa Kitô. Còn Lc thì có khuynh hướng nhân cách hóa các lời của Chúa Giêsu; ông không chồng chất các truyền thống thành những diễn từ dài, nhưng đúng hơn xác định mỗi một giáo huấn được ngỏ cho ai. Bát phúc của Mt có một giọng điệu chung chung (ngôi thứ ba) còn của Lc lại có một giọng điệu trực tiếp (ngôi thứ hai). Bỏ qua đoạn mở đầu (âm mưu, xức dầu tại Bêtani, bữa ăn cuối và hấp hối), chúng ta sẽ lấy trình thuật kể từ việc bắt Chúa Giêsu, màn thứ nhất của cuộc khổ nạn đúng nghĩa. Cứ mỗi chặng, chúng ta sẽ khảo sát trước hết Tin mừng Márcô, mà ta có đủ bằng chúng để coi là có trước bản văn hiện tại của hai Tin mừng kia.

Lược đồ chung có thể thiết lập ngay, không khó khăn lấy: khơi đất là cuộc vây bắt (Mc 14,43-52), rồi đến phiên tòa Do thái ( l4,53-72), phiên tòa Rôma (l5,l-l5), hành trình thập giá ( 15, 16-41) và kết thúc là táng liệm (15,42-47). Lược đồ này gặp lại trong cả bốn Tin mừng, nhưng cơ cấu bên trong của mỗi phần thì lại khác nhau tùy theo mỗi cuốn.

II. CHÚA GIÊSU BỊ BẮT

Ngay từ màn Chúa Giêsu bị bắt, đường hướng riêng của mỗi Tin mừng đã hiện ra rõ rệt.

Márcô: Những sự kiện đánh động.

Márcô kể lại các sự kiện một cách trắng trợn. Hành văn trực tiếp và đột ngột vài nơi: "Người còn đang nói thì Giuđa, một người trong nhóm Mười hai, xuất hiện, và cùng với y có đoàn lũ mang gậy gộc gươm giáo (14,43). Họ tóm lấy Chúa Giêsu; một kẻ có mặt rút gươm chém. Một lời Chúa Giêsu làm nổi bật sự dị thường của hoàn cảnh: "Như thể đi bắt một tên cướp sao mà các ông phải mang gươm giáo gậy gộc (14,48). Chúa Giêsu bị mọi người bỏ. Một chàng thanh niên đi theo bị quân lính bắt, nhưng thoát được mình trần. 

Không có hay ít có lời giải thích. Mátcô chẳng ghi lại một câu nói nào của Chúa Giêsu với Giuđa hay với người môn đồ đã rút gươm chém. Nhận xét ngỏ với bọn vây bắt không có  giải thích các sự kiện cho bằng là nêu lên khía cạnh nghịch thường và phũ phàng của cảnh tượng. Cũng có chìa khóa giải giáp, nhưng bằng một kiểu nói vắn tắt bí ẩn (14,49). Người đọc vẫn cảm thấy thắc mắc khó hiểu.

Mátthêu : Những lời soi sáng. 

Mátthêô thì trái lại tìm cách giải thích ý tưởng của mình thật rõ ràng. Trình thuật của ông bỏ qua một vài chi tiết sống sượng (những lời cuối Mc 14,44; việc nhỏ xảy ra ở Mc 14, 51tt), nhưng được trình bày cách bình thản hơn, trang trọng hơn, rõ ràng hơn. Thay vì "bỗng Giuđa xuất hiện", ông viết: 'Thì này Giuđa . . . đến" (26,47). Thay vì dùng một đại danh từ ("vừa đến gần Người" Mc 14,45; "họ ra tay bắt Người" Lc 14,46), Mt nêu tên Giêsu cho có vẻ cung kính hơn (Mt 26,49- 51, bốn lần). Ông tránh viết văn cẩu thả như thường gặp ở Mc, chẳng hạn như : "vừa tiến đến, lập tức y tiến đến gần" (olthôn uthus prosolthôn, Mc 14,45). Ông cũng tránh lối nói mơ hồ. Nơi Mc 14,47 kiểu nói "một người trong số những kẻ có mặt" thiếu chính xác : đó là bạn hay thù '? Mt bảo "một trong những người ở bên Chúa Giêsu (26,51). Nơi Mc 14,50, ta có thể hiện và kẻ thù bỏ chạy, vì chính họ vừa được Chúa Giêsu nói với; Mt 26,56 ghi rõ đó là các môn đồ.

Nhưng nhất là Mátthêu soi sáng sự việc bằng lời nói. Chúa Giêsu nói với Giuđa (26,50), lời lẽ úp mở thật đấy, nhưng ta có thể hiểu là ám chỉ Tv 55 (câu 13-14 và 21-22). Người nói với môn đồ đã rút gươm và giải thích dài lời về chiến thuật của Thiên Chúa (26,52-54). Người lên tiếng với đám đông.

Nếu muốn tìm người hướng dẫn để chỉ rõ ý nghĩa thần học của màn này, thì phải nhờ đến Mátthêô. Và cái ông nói với ta có tầm quan trọng đặc biệt, vì đây là mở màn cho cuộc  Khổ nạn: những nguyên tắc chiếu soi thái độ của Chúa Giêsu khi bị bắt tỏa ánh sáng lên toàn bộ mầu nhiệm.

Mátthêô cho ta thấy Chúa Giêsu chọn con đường tự hạ trong sự sáng suốt và tự do hoàn toàn, vì Người nhận thấy đó là con đường vạch sẵn trong ý định của Thiên Chúa. Chúa Giêsu từ chối dùng bạo lực đối lại bạo lực, vì chiến thuật này chẳng những không cứu được con người mà còn giam hãm con người trong vòng lẩn quẩn khốn nạn (26,52). Người từ chối nhờ đến quyền năng Thiên Chúa để can thiệp bằng phép lạ; Người tin chắc có thể xin Cha Người can thiệp theo lối đó (26,53), nhung cũng biết rằng đó chẳng phải là con đường đưa tới đích. Đã đến giờ lời Kinh Thánh phải nên trọn. Thành ngủ này trở đi trở lại hai lần, đầu tiên trong lời ngỏ với môn đồ (26,54), rồi sau trong lời nói với “đám đông" (26,56). Ở chỗ này, câu của Mt không giản lược như câu của Mc; nó xác quyết rất rõ ràng và có vẻ như khuôn sáo. "Những sự dã xảy ra là để Sấm ký các ngôn sứ được nên trọn".

Như vậy ngay từ đầu, độc giả Kitô hữu thấy ngay viễn tượng của trình thuật. Đây không phải chỉ là một biên bản. Khi nhìn cuộc Khổ nạn, Giáo hội sơ khai chiêm ngắm nó qua Thánh kinh để thấu suốt ý nghĩa của nó. Giáo hội ý thức có sự phù hợp hoàn toàn giữa ý định của Thiên Chúa được tiên báo trong Cựu ước và các biến cố thoạt đầu có vẻ khó hiểu của Tuần thánh. Sự phù hợp này đã được chính Chúa Giêsu mặc khải; ngay trước khi ứng nghiệm, Người đã tỏ ra ý thức về điểm này trong lời nói cũng như trong hành vi. Chúa Giêsu đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa những gì sắp xảy đến và ý định của Thiên Chúa được Kinh thánh mặc khải.

Về phần các môn đồ thì lúc đó chưa thấy được mối liên hệ nói trên. Lời nói và hành vi của Chúa Giêsu khiến họ lạc lõng hoàn toàn, và họ phản ứng trái mùa, như rút gươm ra khi Thầy bị bắt, rồi để khỏi liên lụy, họ thoát thân hay sau lời chối Thầy. Cuộc Khổ nạn phải hoàn tất, phải đưa đến phục sinh, các môn đồ mới được ánh sáng xâm nhập. Chính khi biến cố kết thúc thì sự phù hợp với Kinh thánh mới trở thành dễ hiểu đối với chúng ta. Nhưng khi đã hiểu, thì ta phải nhớ lại mọi sự để nhờ đó nuôi dưỡng đức tin của mình. Đấy là lời mời gọi của Mátthêô vậy.

Luca: Con người của Thầy.

Luca không trưng dẫn Kinh Thánh cách công nhiên như Mt  song lại chú ý ghi rõ các giai đoạn kế tiếp nhau của mặc khải. Giai đoạn tiêu cực mà Chúa Giêsu phải trải qua được Lc coi là "giờ" của kẻ thù và "quyền lực tối tăm" (Lc 22,53). Các kiểu nói này chỉ liên hệ mặc nhiên với những lời tiên báo của các ngôn sứ. Luca để dành việc khám phá sự ứng nghiệm cho lời kỳ phục sinh: chính Chúa Kitô phục sinh "mở trí" cho các môn đồ "hiểu Kinh Thánh" (24,45tt; x.24,25-27.32; Ga 2,22; 2, 16) .

Bố cục trình thuật để lộ bàn tay của sử gia. Cử chỉ kháng cự, mà Mc và Mt tường thuật sau lúc Chúa Giêsu bị bắt, thì Lc lại đặt vào trước, khiến các sự việc xảy ra ăn khớp nhau hơn. Nhiều chi tiết cũng cho thấy nghệ thuật của văn sĩ: chẳng hạn Lc nói đến dám đông trước khi xướng tên Giuđa (22,47) ; hán giả thoạt tiên trông thấy đám đông, sau đó mới nhận ra người dẫn đường.

Nhưng hơn hết phải để ý đến cách Lc nói về Chúa Giêsu ông chẳng muốn nói rõ là tên phản bội hôn Chúa Giêsu mà chỉ kể cách gián tiếp: "Y lại gần Chúa Giêsu và hôn Người" (22,47). Ngược lại, một câu nói của Chúa Giêsu bộc lộ sự sáng suốt của Người và làm nổi bật tính cách khả ố của cử chỉ kia: “Giuđa, ngươi dùng các hôn để phản bội Con Người sao!". Thế là mỗi Kitô hữu được lưu ý phải đề phòng sự thất trung đối với Chúa mình.

Luca cũng tránh nói nhiều về hành động bắt Chúa Giêsu. Ông chỉ nhắc qua bằng một phân từ (22,54). Lòng sùng kính khiến Lc giảm nhẹ tất cả những gì gây tổn thương nặng nề đến nhân phẩm Chúa Giêsu. Đối với các cảnh sỉ nhục cũng vậy: lần đầu (22,63-65), ông không hề nói đến những cái tát và nhổ; còn lần thứ hai, ông chỉ có hai ám chỉ kín đáo (23,16.22), mà chẳng minh nhiên đề cập việc đánh đòn và đội mão gai.

Đối lại, Luca chú ý làm nổi bật sự cao thượng của Chúa Giêsu, nhất là sự cao thượng tinh thần. Điểm này đã lộ ra nơi câu nói với Giuđa, ngắn gọn là đau buốt ; rồi được phản ảnh trong câu hỏi của các môn đồ, câu hỏi chứng tỏ họ ý thức uy quyền của Thầy họ: "Thưa Ngài, chúng tôi lấy gươm chém được chăng?" (22,49) ; sau hết hiện rõ trong câu của lời phủ định của Chúa Giêsu và nhất là trong cử chỉ của Người: Chúa

Giêsu không chỉ ra lệnh cấm dùng vũ khí, Người còn sửa sang thiệt hại, chữa lành vết thương của đối thủ. Đáng khâm phục ở đây không phải là quyền năng làm phép lạ, mà là gương quảng đại tuyệt vời (x. Lc 6,27-36).

TẠI PHIÊN TÒA DO THÁI

Sau khi bị bắt, Chúa Giêsu được giao nạp cho nhà chức trách của dân tộc Người: người ta điệu Người đến vị thượng tế. Một thủ tục tố tụng được bắt đầu. Các Tin mừng Nhất lãm hiển nhiên không chủ ý thuật lại đầy đủ diễn tiến thủ tục. Nhiều chi tiết bị bỏ qua, khiến các sử gia lắm phen không biết làm sao quyết đoán. Các yếu tố được Tin mừng Nhất lãm lựa chọn là những yếu tố đã được truyền thống sơ khai, dưới ánh sáng phục sinh, hiểu là quan trọng hơn, và vì vậy đã được đem vào huấn giáo. Những yếu tố này được trình bày cho ta trong ba kết cấu khác nhau. 

1. Các phiên nhóm.

Trong phiên tòa, Márcô phân biệt hai thì : hỏi cung ngay sau khi bị bắt (14,53-64) và phiên nhóm của hội đồng vào lúc sáng sớm (15, 1). Kiểu nói ông dùng để chỉ phiên nhóm này ("sau khi chuẩn bị một hội nghị") mặc cho nó một tính cách có vẻ pháp lý hơn. Tuy nhiên Mc không đợi đến lúc  này mới kể ra những lời tố cáo Chúa Giêsu. Trong trình thuật ," của ông, những lời tố cáo đó đã được ghi lại ngay từ lúc thẩm cứu, khiến buổi thẩm cứu này trở thành chủ yếu trong toàn bộ. Theo câu văn, chi tiết về phiên nhóm của hội đồng thuộc phần kế tiếp; được diễn tả bằng một phân từ, chi tiết này nằm trong cật và, chuyển mạch dẫn vào phiên tòa Rôma (15,1).

Mátthêô trái lại diễn tả việc nhóm hội đồng bằng một động từ ở trực trần cách (indicatlo (27, 1), và- xen vào đây một giai thoại mới (27,3-10) trước khi bước sang phiên tòa Rôma. Như vậy phiên tòa Do thái và phiên tòa Rôma phân biệt nhau rõ ràng hơn. Nhưng cũng như Mc, Mt đặc biệt khai triển buổi hỏi cung ban đêm; ông còn nhấn mạnh buổi hỏi cung này hơn Mc nữa, vì câu hỏi của vị thượng tế được mang hình thức một lời yêu cầu long trọng (26,63).

Luca ngược lại chỉ lưu ý đến việc hầu tòa chính thức ban ngày (22,66). Ông chẳng nói gì đến buổi hỏi cung trưa đó, vì xem ra không có giá trị mấy về mặt luật pháp cả. Ở đây văn sĩ cói cùng ưu tư như sử gia, vì bỏ bớt như vậy làm cho trình thuật ra nhẹ nhàng hơn, không bị những ngắt quãng và lặp lại làm cho thành chậm chạp (so sánh với Mt 26,57.59.66) 

2. Nhìn chung cách kết cấu.

Không thánh sử nào chỉ làm công việc ghi lại các yếu tố của phiên tòa. Cả ba đều thêm vào nhiều sự kiện khác có ý nghĩa. Thật vậy, Chúa Ciêsu không những bị điều tra mà còn bị ngược đãi và lăng nhục. Márcô: phẩm chức thiên sai và những nhục hình. Đoạn văn của Mc gồm những cảnh tương phản rõ rệt. Sau khi ghi chú tươi chỗ và giới thiệu nhân n vật (14,53-54), Mc kể lại buổi hỏi cung trước tiên. Chiều hướng buổi hỏi cung này đã được xác định ngay từ đầu : người ta tìm cách "lên án tử Chúa Giêsu” (14,55). Nhưng ý đồ này đã bị thực tế bẻ gãy: như không tìm được chứng cớ nào có giá trị để buộc tội Chúa Giêsu. Trong số rất nhiều lời cung khai, Mc chỉ giữ có một nói đến việc phá hủy Đền thờ, nhưng lại ghi rõ là về điểm này cũng như các điểm khác, các lời khai không phù hợp nhau. Sau cùng vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về vị thế của Người trong ý định của Thiên Chúa: Người có phải là Chúa Kitô, con của Đấng đáng chúc tụng không? Câu trả lời của Chúa Giêsu là một tuyên bố long trọng về phẩm chức Thiên sai siêu việt của Người. Thành thử buổi hỏi cung xem ra đưa đến kết quả trái ngược với sự mong muốn: thay vì minh chứng bị can là có tội, nó lại bày tỏ phẩm chức tối cao của Người.

Nhưng rồi lại đến cảnh trái ngược thứ hai: phẩm chức Chúa Giêsu được mặc khải nhưng không gây một tiếng vang tích cực nào. Chẳng một ai bái phục, chẳng một ai hưởng ứng. hậu quả độc nhất là khai mào cho một chuỗi phản ứng trái ngược: Chúa Giêsu bị kêu là phạm thượng, bị tuyên bố "đáng tử hình" (14,64: buổi hỏi cung kết thúc tương ứng với lúc khởi đầu 14, 55), bị ngược đãi và lăng nhục (14,65); môn đồ nhiệt thành nhất chối Người (14,66-72); kẻ thù trói Người như một tên gian phi để đem nộp cho Philatô (15,1).

Xét bên ngoài, các sự việc xảy ra trái ngược với lời Chúa Giêsu một cách phũ phàng thật. Qua thứ tự trình bày, Mc làm nổi bật tương phản nghịch lý ấy giữa lời xác quyết của Chúa Giêsu về phẩm chức của mình và những nhục hình tàn nhẫn  do đó mà ra. 

Mátthêô: Sự tương phản được Kinh Thánh soi sáng (giá máu) Bản văn của Mátthêo giữ lại những yếu tố giống Mc, nhưng nhìn chung có tính cách lược đồ hạn. Mt tránh nhưng vụng về và những lặp lại do ứng khẩu mà ra (so sánh Mt 26,60-62 với Mc 14,56-60). Chi tiết được xếp đặt khéo léo hơn nhiều. Chẳng hạn ba lần chối Thầy của Phêrô được ông xếp theo thứ tự tiệm tiến. Ông biết nhấn mạnh các điểm quan trọng (lời kêu cầu của vị thượng tế 26,63 ; kết tội phạm thượng hai lần 26,65).

Trong lời tuyên bố long trọng của chúa Giêsu, Mt giữ lại một tiểu dị mà Mc đã bỏ qua. Thay vì quả quyết trực tiếp "chính là tôi" (Mc 14,62), Chúa Giêsu trả lời dựa trên câu nói của vị thượng tế: "ông nói đó" (Mt 26,64). Chúa Giêsu bảo vậy để cho thấy không phải chính Người có sáng kiến công bố phẩm chức Thiên sai của mình, và tỏ ý dè dặt đối với quan niệm thiên sai của những kẻ tố cáo Người.

Cách bố trí chung của đoạn văn giống Mc và thành thử cũng bao gồm sự tương phản giữa lời Chúa Giêsu và cách người ta đối xử với Người. Nhưng trước khi bước sang phiên  tòa Rôma, Mt thêm đoạn về "giá máu” (27,3-10). Một vài chi tiết của trình thuật này cho thấy rằng vị trí của đoạn văn không phù hợp với thứ tự thời gian (các thượng tế và kỳ lão không thể có mặt cùng một lúc trong Đền thờ và tại dinh tổng trấn; không thể mua thửa ruộng ngay lập tức được). Vị trí này chủ ý. Thực thế, đây là một dữ kiện bổ túc làm thay đổi hoàn toàn viễn tượng của phiên tòa Do thái. 

Dữ kiện cung cấp cho phiên tòa Do thái kết luận riêng của nó. Một lần cuối, mọi kẻ hữu trách của vụ án họp mặt: Giuđa, các vị thượng tế và kỳ lão. Việc đổi chác đã được đôi bên thỏa thuận trước đây mấy ngày (26,15) nay được nhắc lại và nhấn mạnh. Chủ đề của đoạn văn không phải là "cái chết của Giuđa" như người ta thường bảo, mà là "những đồng bạc", giá máu. Cái chết của Giuđa chỉ được tường thuật với một tiếng, trong khi số bạc được nói đến 7 lần (4 lần bằng danh từ, lần bằng đại danh từ) và máu 3 lần.

Qua việc nhắc lại số bạc khốn nạn, Mt cho ta chìa khóa của sự nghịch lý mà Mc đã bỏ lửng không giải thích. Một đàng, rõ ràng vụ án là một vụ án bất công. Số bạc làm chứng điều đó cách tàn nhẫn. Giuđa nhìn nhận như vậy; y khai: "Tôi đã phạm tội nộp máu vô tội" và quăng trả tiền công phản bội của y (27,4-5). Các thượng tế ban đầu không muốn đếm xỉa đến việc này, cuối cùng nhìn nhận: "Đó là giá máu” (27,6).

Đàng khác, qua âm mưu của Giuđa và nhà chức trách Do thái, rõ ràng ý định của Thiên Chúa được thực hiện theo tiên báo của Thánh Kinh. Thật vậy, số bạc đã được các ngôn sứ  đề cập tới (27,9-10). Hơn nữa, nó cho thấy việc xét xử  của Thiên Chúa được thực thi: Giuđa không được hưởng món. Lợi khốn nạn và các thủ lãnh Do thái ghi trên mảnh đất họ mua dấu chứng tội ác của họ, tội ác bị nguyền rủa "cho đến ngày nay” bằng tên gọi "ruộng máu ” (27,8). Như thế là vị trí của hai bên Israel cũ và Giáo hội Chúa Kitô được phân định rõ ràng và ở đây chúng ta lại gặp hai đức tính của Mt, Tin mừng về giáo thuyết Tin mừng về Giáo Hội.

Luca: thái độ của người môn đồ, chứng từ của Chúa Giêsu.

Phần Luca, ông đã lựa chọn một thứ tự rất khác biệt: Trước hết Phêrô chối Thầy rồi ăn năn (22,54-62), tiếp đến quân canh hành hạ Chúa Giêsu (22,63-65), sau cùng Chúa Giêsu bị hỏi cung ban sáng (22,66-71) và giao nộp cho Philatô.

Bố cục này phù hợp với viễn thượng "cá nhân-huấn đức, của Lc. Ngay trước khi phiên tòa bắt đầu, thì vấn đề tiên khởi được đặt ra là thái độ của người môn đồ trong lúc Thầy mình ra trước tòa án. Khuynh hướng tự nhiêu là bất liên đới với Chúa Giêsu bị bắt. Chẳng ai dại gì tự nhận là môn đồ của một ông Thầy hạ mình quá đáng như vậy. Phêrô bảo không biết Người (22,57). Trình thuật về việc ông chối Thầy phơi bày chước cám dỗ len lỏi vào lòng mỗi cá nhân. Và trình thuật về việc ông ăn năn nhờ Chúa quay lại nhìn (22,61) để lộ bí quyết của trọi cuộc hối cải chân thật.

Vì tế nhị, Lc không nhấn mạnh lỗi lầm của Phêrô như Mc và Mt. Ông chẳng nói đến lời thề thốt. Đàng khác, thứ tự kể chuyện làm thay đổi tương quan giữa việc Phêrô chối Thầy và việc quân canh nhục mạ. Trong Mc, màn chối Thầy tiếp liền màn bọn đầy tớ nhục mạ (14,65) khiến Phêrô bị xếp về phía bọn chúng. Trong Luca, Phêrô chối trước rồi ăn năn, sau đó mới đến màn nhục mạ. Do đó có sự phân cách: Phêrô khóc lóc không đứng về phe bọn nhục mạ. Độc giả Kitô hữu cũng không. Người Kitô hữu theo dõi cuộc Khổ nạn của Đấng Cứu Thế với tâm tình của tội nhân đã hối cải. (Người ta hơi nghi ngờ về xác thực tính của Lc 22,62 vì giống Mt 26,75. Nếu nó không có thì viễn tượng sẽ thay đổi: điểm nhấn mạnh sẽ nằm trên việc hoàn thành lời tiên báo của Chúa Giêsu: môn đồ phải thừa nhận rằng Chúa Giêsu đã dự đoán hết mọi sự ; Lc 22,61 trả lời trước cho câu chế nhạo ở 22,64: "Nói tiên tri xem" và chuẩn bị cho 22,69-71).

Trong cuộc hầu tòa, Lc bỏ qua màn nhân chứng ra trình diện và lời tố cáo liên quan đến việc phá hủy Đền thờ. Ông tập trung ý tứ vào việc mặc khải thân thể Chúa Giêsu. Ông cho câu hỏi mang hình thức tập thể để tránh đặt Chúa Giêsu trong thế yếu kém trước một vị thượng tế ra lệnh cho Người trả lời. Đàng khác, Chúa Giêsu trước tiên nói những lời tỏ ra Người hiểu biết lòng thế nhân và có uy quyền thật sự (22,67-68). Lời tuyên bố tiếp theo sau đó được Lc trình bày đơn giản hơn để tránh gây thắc mắc cho độc giả Hy lạp. Hơn nữa, Lc chia câu hỏi ra làm hai, phân biệt phẩm tính Thiên sai và phẩm tính Con Thiên Chúa, nhờ vậy bản văn thêm sáng sủa. Lời tự xưng là Con Thiên Chúa không bị coi là phạm thượng. Luca cũng chẳng ghi công thức lên án. Ông sẽ không nói đến việc Chúa Giêsu bị lên án ở chỗ nào. Ở đây, Lc chỉ ghi rằng sau khi nghe những lời của Chúa Giêsu, nhà chức trách cho là chẳng cần chứng cớ nào khác và điệu Chúa Giêsu đến Philatô. Đó là cách Lc nhấn mạnh tầm quan trọng quyết định của chứng từ Chúa Giêsu về chính bản thân Người. Ở đây  ta nhận ra sự thương mến của các môn đồ đối với Thầy vậy. 

IV. PHIÊN TÒA RÔMA

1. Nhập đề 

Việc Chúa Giêsu ra trước tòa Philatô được Mátcô kể lại có vài dòng. Hơn nơi khác, ở đây ta nhận thấy thánh sử không có ý tường thuật tất cả. Buổi hỏi cung quá sơ lược đến nỗi xem ra khó hiểu tối tăm. Mc ghi lại cách đột ngột một câu nói của Philatô mà chẳng chuẩn bị trước: "Ông có phải là Vua Do thái không?" (15,2). Chúa Giêsu trả lời: "Chính ông nói thế". Không một lời giải thích.

Mátthêô trình bày rõ ràng hơn, thánh sử chú ý đặt tên Giêsu ra trước, và gọi Philatô bằng tước hiệu của ông để ghi rõ tính cách chính thức của quang cảnh: "Người ta đặt Chúa Giêsu trước tòa tổng trấn" (27,11). Nhưng Mt cũng không chuẩn bị cho câu hỏi của Philatô. 

Luca thì lại có chuẩn bị. Như một sử gia lành nghề, trước tiên ông để cho bọn người tố cáo lên tiếng, họ kể lể buộc tội, trong đó có tội tự xưng là Vua thiên sai (23,2). Câu hỏi của Philatô bấy giờ có vẻ tự nhiên. 

Thật vậy, khi gọi người là "Vua Do thái", người ta đã huyền phẩm chúc Thiên sai sang bình diện chính trị. Đó là bóp méo một cách sống sượng lời tuyên bố của Chúa Giêsu, nhưng vẫn giữ đôi chút sự thật. Thánh Gioan sẽ điều chỉnh điểm này (Ga 18,33-38).

2. Nhìn chung cách kết cấu.

Márcô: Dân Do thái chống vua dân Do thái. 

Vì không có chuẩn bị trước, nên câu hỏi của Philatô nơi Mc được nổi bật hơn. Phiên tòa Rôma là vụ án "vua dân Do thái”. Tước hiệu này được nhắc lại mấy lần trên miệng vị tổng trấn (15,9.12); bọn lính Rôma vớ lấy tước hiệu và nảy ra ý kiến bày một trò chơi độc ác.

Đây là một vụ án kỳ lạ, vì chính người Do thái tấn công Vua dân Do thái mà vua dân Do thái không đáp lại lời nào (15,3-5). Hai màn tiếp theo nhau. Màn thứ nhất là hỏi cung. Sau câu hỏi đầu, các vị thượng tế tố cáo. Philatô tìm hiểu nội vụ Chúa Giêsu nín lặng. Philatô rất đỗi ngạc nhiên ! 

Màn thứ hai cũng không kém phần khó hiểu. "Vua dân Do thái" được đặt ngang hàng với một tên phiến loạn sát nhân. Tha ai? Phạt ai? Vị tổng trấn đề nghị tha vua dân Do thái (15 ,9) vì không có tội gì (15, 14), nhưng đám đông Do thái bị các thượng tế xúi giục, đòi xử vua của họ bằng khổ hình của Rôma là thập giá (15,13.14) ; cuối cùng, Philatô chịu thua.

Mátthêô : dân Israel và máu Chúa Kitô.

Trong trình thuật về cuộc hỏi cung. Mt chỉ sửa đổi lời văn đôi chỗ. Phần đóng góp riêng của ông nằm trong giai thoại Baraba, với hai yếu tố được thêm vào: màn bà vợ Philatô can thiệp (27,19) và màn rửa tay (27,24-25). Nhưng đó không phải chỉ là những thêm thắt. Mt lấy lại toàn bộ và biên soạn rất khéo léo.

1. Trước tiên, các nhân vật đối diện: vị tổng trấn và đám đông; rồi câu hỏi phải trả lời: tha ai ? Baraba hay Giêsu? (27,15tt).

2. Cả hai bên đều chịu ảnh hưởng: theo lời báo mộng, bà vợ Philatô nhìn nhận Chúa Giêsu là "người công chính" và bênh vực cho Chúa Giêsu trước mặt chồng (27,19) ; trái lại, các thượng tế và kỳ lão xúi giục đám đông Do thái xin tha cho Baraba và lên án Giêsu (27,20).

3. Bấy giờ là cuộc đối thoại giữa Philatô và đám đông:

Tha ai ? Baraba. - Làm gì cho Giêsu ? Đóng đinh thập giá. Philatô tìm cách biện bác, nhưng đám đông không chịu thua (27,21-23).

4. Thế là một màn kịch diễn ra để minh định lập trường.

Philatô rửa tay từ chối trách nhiệm trong việc giết Chúa Giêsu. Dân chúng tuyên bố lãnh trách nhiệm (27,24-25).

5. Kết thúc đáp lại mở đầu : Philatô thả Baraba và giao Chúa Giêsu cho người ta hành hình (27,26)

Trong sự luân phiên đều đặn của kết cấu đồng tâm này, cái ý hướng giáo thuyết và Giáo hội xuất hiện rõ rệt: một màn nữa đây là cái mối quan hệ giữa Chúa Kitô với dân Israel. Trong khi bà vợ viên quan ngoại giáo xin tha cho "người công chính", thì con gái Sion lớn tiếng đòi giết đấng Thiên sai, Đấng Kitô của mình (thay vì nói "vua dân Do thái" như Mc, Mátthêô ghi hai lần "Giêsu gọi là Kitô" (27,17.22). Trách nhiệm mà Philatô từ chối thì "toàn dân" nhận lấy lên đầu mình (27,25).

Lập trường được dân tộc Giao ước cũ lựa chọn đánh dấu khúc quanh trong lịch sử cứu độ : từ nay, muốn vào Vương quốc Thiên Chúa, mỗi người Israel phải hối cải và gia nhập Giao ước mới ký kết trong máu Chúa Giêsu (Mt 26,28).

Luca: Chúa Giêsu vô tội.

Nơi Luca, phiên tòa Rôma được miêu tả theo một viễn tượng khác và được bổ túc thêm. Trên đây ta đã nói đến những lời kể lể buộc tội ở đầu buổi hỏi cung (23,2). Lời tố cáo được lập lại nêu rõ Chúa Giêsu gốc ở Galilê (23,5). Điểm này đưa đến một biến chuyển mới, được sử gia kể lại cẩn thận:
Chúa Giêsu được chuyển sang quyền tài phán của Hêrôđê. Quản vương chỉ xuất hiện một lần trong Mt ( 14, 1-12) và hai lần trong Mc, nhưng tới 6 lần trong Lc.  

Cuộc gặp gỡ này có ý nghĩa đặc biệt đối với Luca: đây là cơ hội để ông chỉ trích một lối tìm hiểu Chúa Giêsu cách sai lạc tìm hiểu vì tò mò và để tiêu khiển, chứ chẳng phải để dấn thân. Thái độ đó chẳng thâu lượm được gì nơi Chúa Giêsu, và rốt cuộc biến thành xua đuổi khinh bỉ. Chính trong màn gặp Hêrôđê, Luca mới nói đến việc lăng nhục, nhưng dầu sao cũng vắn tắt (23,11). Cuối phiên tòa, Luca sẽ tránh nói đến những sự độc ác của người Rôma.

Do những thay đổi khác nhau vừa kể, đoạn văn của Luca chia làm ba hồi:

1. Trình diện trước Philatô, Philatô đẩy sang Hêrôđê (23,2-7).

2. Trình diện trước Hêrôđê, Hêrôđê đẩy về Philatô (23,8-12).

3. Philatô triệu tập toàn thể và chiều theo ý người Do thái (23, 13-25).

Trong hồi chót, nhân vật Baraba mất phần quan trọng. Tên của y, được Mt nhắc đến năm lần, chỉ gặp có một lần nơi Lc (23,18). Thánh sử thứ ba không thích nhấn mạnh việc đặt Chúa Giêsu ngang hàng với một tên sát nhân này. Nhưng vì phải nhắc đến, nên ông cố gắng nêu lên tính cách tương phản của sự việc (23,25).

Lý do là vì chủ đề chính của ông là sự vô tội của Chúa Giêsu. Ngay sau câu hỏi đầu tiên, Philatô tuyên bố không tìm lấy lý do gì để lên án bị can cả (23,4). Lập trường này làm tác giả ngạc nhiên, vì trước đó chẳng có gì giải thích tại sao Philatô lại nói như thế ; muốn tìm hiểu việc này, phải nhờ đến những khai triển của Tin mừng thứ tư (Ga 18,33-38). Lời tuyên bố của Philatô quả làm nổi bật viễn tượng của Luca.  Thật vậy, lời tuyên bố vô tội được lặp lại và khuếch đại sau đó: nơi c.14, Phialtô dựa trên kết quả điều tra riêng của ông; nơi c.15, ông giải thích thái độ của Hêrôđê theo cùng nhiều hướng. Philatô trở lại vấn đề một lần thứ tư khi người Do thái đòi giết Chúa Giêsu (c.22). Nghĩ sao nói vậy, vị tổng trấn nhiều lần tỏ ý muốn tha Chúa Giêsu (cc.16.20.22). Nhưng người Do thái la ó phản đối, cuối cùng Philatô phải đầu hàng  "phó nộp Chúa Giêsu cho họ làm gì mặc ý" (c.25).

Cách miêu tả thái độ của Philatô như trên chắc hẳn chưa phản ảnh lòng trung thành của Luca đối với Rôma, nhưng nhất  là làm nên cơ hội để nhấn mạnh sự vô tội hoàn toàn của Chúa Giêsu người môn đồ trung tín không ngớt nhấn mạnh điểm ấy điểm làm nền tảng cho lòng sùng kính đối với Chúa Giêsu  đau khổ. Luca còn biết rằng đây là một bài học quan trọng cho người Kitô hữu. Nếu họ bị điệu ra trước các tòa án, thì đừng có vì lỗi của họ, mà vì trung thành với ý muốn của Thiên Chúa như  Thầy của họ (x. 1Pr 4, 15- 16).

V. NÚI SỌ

Sau khi bị lên án tử hình thập giá, Chúa Giêsu bị bọn lính hành hạ, rồi dẫn lên núi Sọ mà hành hình (Mc 15,20; Mt 27,31; Lc 22,26). Cái chết của Người là biến cố chủ yếu của lịch sử cứu độ. Hơn lúc nào hết, ở đây chúng ta cần nghiên cứu kỹ lưỡng cách kết cấu của các Tin mừng.

Márcô: Từ trong bóng tối, cuối cùng lóe ra ánh sáng. 

1. Diễn tiến trình thuật.

Được đặt vào giữa hai câu song song đề cập đến việc đóng đinh sắp diễn ra ("để chịu đóng đinh thập giá" Mc 15,l5;  Mt 17,26 và "để đóng đinh Người" Mc 15,20; Mt 27,31), màn chế giễu khai mào cho việc hành hình kẻ can án (Mc 15,16-20; Mt 27,27-31; Lc không có). Bọn lính vội vàng cụ thể hóa phán quyết của phiên tòa Rôma bằng một màn kịch tương hợp: "vua dân Do thái" được khoác áo choàng đỏ, đội vương miện và nhận những dấu tôn sùng; nhưng vương miện thì bằng gai, còn dấu tôn sùng là trò chế giễu kèm theo đánh đập. Một lần nữa, ý định của Thiên Chúa được thể hiện trong thực tế bằng một hình ảnh trái ngược.

Sau đó là cuộc hành quyết đúng nghĩa. Trong trình thuật Mc có thể phân biệt sáu cảnh liên tiếp; trưng dụng Simon người Cyrênê (15,21) ; 

2- Đóng đinh (15,22-27);

3. Chế nhạo (15,29-32);

4- Tối tăm (15,33~36);

5- Cái chết của Chúa Giêsu và những âm hưởng (15,37-39);

6- Các thánh nữ (15,40-41).


Thoạt nhìn, lối đóng khung trình thuật (đầu là Simon, cuối là các phụ nữ) có thể gợi lên ý tưởng chia sẻ đau khổ với Chúa Giêsu, nhưng các chi tiết của Mátcô nhằm mục đích khác: Márcô cho biết danh tính các con của Simon và danh tính nhiều phụ nữ. Những danh tính này bảo đảm thực tế của sự việc; chúng dẫn về những nhân chứng mà người ta có thể hỏi trực tiếp. Márcô công bố những biến cố cứu độ, là những biến cố lạ lùng nhưng lại đã xảy ra khách quan trong lịch sử nhân loại.

Thứ tự kể chuyện không phải tùy hứng. Mátcô theo việc xếp đặt những chi tiết có ý nghĩa do truyền thống Tin Mừng cung cấp cho ông. Không phải do tình cờ mà ông đặt tước hiệu "vua dân Do thái" (15,26) giữa hai lần đề cập đến việc đóng đinh (15,25.27). Tước hiệu này, như ta đã ghi chú, là đặc điểm của phiên tòa Rôma (15,2.9.12.18) và động từ "đóng đinh" đã gõ nhịp cho cùng buổi xử án ( 15,13.14.15.20). Cảnh Chúa Giêsu ở giữa hai tên gian phi (15,27) có thể so sánh với cảnh Người bị để ngang hàng với tên Baraba phiến loạn (15,6-15).

Thành thử đây chính là kết cục của phiên tòa Rôma. Lời lẽ nghịch thường trong phiên tòa này thể hiện trong thực tế Chúa Giêsu được nhìn nhận là "vua dân Do thái", nhưng trong một bối cảnh vô cùng trái ngược : trần trụi hoàn toàn (áo xống cũng bị lột mất : 15,24), sỉ nhục tột độ (cận thần là hai tên cướp), bị hành hình mà bất lực và phải chết. 

Loạt chế diễu đi tiếp theo sau màn đóng đinh một cách tự nhiên. Nhưng chiều hướng thì rất khác. Chúng không quy về phiên tòa Rôma, mà quy về phiên tòa Do thái, và lấy lại hầu hết các yếu tố của phiên tòa này.

Nhóm người chế nhạo trước tiên, những kẻ qua lại (15,29) thì tương ứng với những người làm chứng dối . Họ lập lại lời tố cáo trước (14,58): Giêsu đã phô trương là có thể phá hủy Đền thờ và xây lại trong ba ngày. Nhóm thứ hai là các quan tòa thượng tế và ký lục": (15,31; x. 14,53); họ nhắc lại câu chất vấn khi hỏi cung và lời tuyên bố thiên sai của Chúa Giêsu, "Đấng Kitô, vua Israel" (15,32; x. 14,61-61). Tuy nhiên, Márcô không nhắc đến tước hiệu Con Thiên Chúa: ông dành yếu tố quyết cảnh này cho màn lật ngược tình thế vào phút chót (15,39).

Bối cảnh là một bối cảnh chế diễu, vì thực tế không phù hợp với những tham vọng mà người ta gán cho Chúa Giêsu Theo con mắt loài người, Chúa Giêsu phải xuống khỏi thập giá( 15,30.32). Muốn cho tham vọng xây dựng lại mọi sự bằng cách xây dựng lại một Đền thờ mới có nền tảng, Người phải thoát thân khỏi cái chết gần kề. Muốn biểu dương uy quyền Thiên sai, chính lúc này đây Người phải chiến thắng địch thủ. Bấy giờ thiên hạ mới tin Người được (15,32).

Thánh sử biết rằng lối nhìn này là lầm lạc, nhưng vẫn để cho nó được phô tày một cách phũ phàng. Cùng với ông, chúng ta va chạm với thực tế và đi sâu vào tối tăm của mầu nhiệm.

Rồi đến giờ lý đoán của Thiên Chúa. Đó chẳng phải là giờ giải thoát, nhưng là giờ đày đọa cùng tột. Bóng tối trở nên dày đặc (x. Ge 2,1.2. 10; Hb 3,3. 11 ; Am 8,9 v.v. . .). Trong bầu không khí ngột ngạt ấy tiếng kêu của Chúa Giêsu, trích dẫn Tv 22, như nhìn nhận lũ người chế diễu là có lý. Không phải Đền thờ Giêrusalem bị Thiên Chúa bỏ rơi và bị tàn phá, nhưng là Giêsu, người đã nói phạm tới Đền thờ.

Con người của Chúa Giêsu bị ghê tởm (la ngữ là “xecratio", nghịch nghĩa với "consecratio": thánh hiến). Đây mầu nhiệm của thử  thách tột đỉnh, điều kiện của hồng ân tuyệt vời Trong thực tế sự ghê tởm này đưa đến - như đoạn tiếp của Tv gợi ý là đoạn tiếp của Tin mừng cho thấy rõ – sự  mặc khải sung mãn Con Thiên Chúa. Khi chấp nhận thánh ý Chúa Cha đến cùng Chúa Giêsu tỏ ra mình với Chúa Cha chỉ là một trong tình yêu. Chúa Giêsu cho Chúa Cha, Chúa Cha cho Chúa Giêsu, Thiên Chúa cho loài người, nhất nhất đều thực hiện trong biến cố tối tăm này.

Thiên Chúa đã "chọn cư trú trong đám mây đen" (x. Tv 8,12; 2Sk 6,1). Thành thử hiện tại tất cả còn bí ẩn và những kẻ chứng kiến quang cảnh không hiểu được gì. Lối thoát cuối cùng mà họ dự liệu cho Chúa Giêsu với ít nhiều mỉa mai, không được thực hiện: Elia, "được chỉ định để làm nguôi cơn giận" (Hc 48,10) không can thiệp mảy may. Chúa Gjêsu phải uống cạn chén đắng.

Người tắt thở. Mọi sự hình như đã xong theo nghĩa tiêu cực, nghĩa là mọi sự đã tiêu toan. Thực ra, mọi sự đã xong theo nghĩa tích cực: mọi sự đã hoàn tất.

Ngay lúc đó, xuất hiện hai dấu chỉ làm chửng mọi sự đã hoàn tất. Dấu chỉ thứ nhất thuộc về liền thờ : màn xé ra làm hai (15,38). Dấu chỉ thứ hai là một lời tuyên xưng đức tin phát ra từ miệng viên bách quản trước cái chết của Chúa Giêsu : Quả thật, người này là Con Thiên Chúa. (15.39). Những dấu chỉ này có thể xem ra không quan trọng. Tuy nhiên chúng vẫn có giá trị định đoạt của một câu kết luận. Chúng xác định ý nghĩa của biến cố và xác định một cách bất ngờ bằng một sự đảo ngược nghịch thường.

2 . Mặc khải về Chúa Kitô.

Muốn nắm vững đầy đủ ý nghĩa của hai dấu chỉ trên trong tư tưởng của thánh sử, cần phải chú ý đến những quan hệ mà kết cấu của trình thuật đã thiết lập giữa các dấu chỉ với một vài dữ kiện trong các màn xảy ra trước. Thật vậy, chính toàn bộ mang lại cho chúng ta sự mặc khải về Chúa Kitô. Không có màn kết. Các yếu tố trước sẽ như bị bỏ lửng và chẳng thể nào giải thích chúng một cách chắc chắn được. Nhưng ngược lại, màn kết cũng cần các yếu tố kia để làm nổi bật tầm quan trọng của nó.

3.Thân thể Chúa Giêsu.

Chúng ta hãy  bàn đến dấu chỉ thứ hai trước, dấu chỉ dứt khoát" nhất, mặc khải thân thế Chúa Kitô. Sau khi thấy Chúa Giêsu chết nnhư thế nào, viên bách quản tuyên bố Người  là Con Thiên Chúa (15,39): lời tuyên xưng đức tin này một  đàng đáp lại lời chế diễu của các thượng tế đòi thấy Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá mới chịu tin (15,32); đàng khác nó xác nhận lời Chúa Giêsu long trọng tuyên bố mình là Con Thiên Chúa: "Các ông sẽ thấy?" (14,62), mà sau đó họ đã đem ra chế nhạo.

Đã lộ ra trước đây trong phiên xử, tầm quan trọng của lời tuyên bố long trọng này nay lại được xác nhận trong màn kết. Bây giờ ta cần phải khảo sát ý nghĩa giáo thuyết của nó. 

Khi hỏi Chúa Giêsu có phải là (Chúa Kitô, con Đấng đáng chúc tụng" không, vị thượng tế nhắc đến các lời hứa về Đấng Thiên Sai. "Kitô" và "Thiên sai" là hai tước hiệu đồng nghĩa; còn phẩm chức Con Thiên Chúa của Đấng Thiên sai thì đã được ngôn sứ  Nathan tiên báo (2Sm 7, 14) và được công bố trong Tv 2. 

Chúa Giêsu trả lời khẳng định câu hỏi trên. Nhưng Người lập tức giải thích thêm để xác định rõ ràng hơn ý nghĩa của các hạn từ. Vẫn biết trước câu hỏi của vị thượng tế, người ta có thể trả lời cách khẳng định mà không bị giáo quyền chính tông Do thái chỉ trích. Nhưng Chúa Giêsu đã tự xưng là Đấng thiên sai Con Thiên Chúa theo một nghĩa bị Hội đồng tối cao lên án là phạm thượng (Mc 14,64; Mt 26,65; Ga 19,7; 10 33). Bởi vì câu trả lời của Người kết hợp những kiểu nói của Tv 110 về Đấng Thiên sai và của Đanien về một con Người, nên nó mang một ý nghĩa vô cùng phong phú, không thể tìm thấy trong các kiểu nói kia nếu tách riêng hai bản văn.

Tv 110 nằm trong đường hướng thiên sai thuyết Đavít.  Nó mời vua Sion ngự bên hữu Thiên Chúa, nhưng không nói rõ là ngự trên trời. Kiểu nói "ngự bên hữu  có thể hiểu là tham dự quyền bính Thiên Chúa ở dưới đất : vua trị vì tại Sion (c 2) ngự trên "ngai vương quyền của Giavê trên Israel" 1Sk 28,5; x. 1sk 29,23; 2Sk 9,8). Vẫn biết truyền thống thiên sai có khuynh hướng nâng Vua Thiên sai lên ngang hàng với Thiên Chúa và gán cho người nhiều danh hiệu thần linh (x. Is 7, 14; 9,5t; 11, 1t; Gr 23,6; Ed 34,23, so sánh với 34,15; 37,24-28; Dcr 12,8), nhưng không bản văn Cựu ước nào kể Đấng Thiên sai là bình đẳng thật sự trên bình diện thiên quốc.

Còn thị kiến của Đanien thì nằm trong đường hướng truyền thống khải huyền, tức là trong đường hướng của các cuộc thần hiện vĩ đại, trong đó tỏ hiện vinh quang Giavê. Đặc  biệt, có thể đối chiếu thị kiến với đoạn văn Edêkien mô tả Thiên Chúa xuất hiện như một hình người" toàn bằng lửa và  kim loại nung đỏ (Ed 1,26-28). So sánh với các cuộc thần hiện khác, thị kiến của Đanien có nhiều nét đặc biệt : 

-    Không phải là một cuộc biểu dương vinh quang Thiên Chúa dưới đất, mà là một cảnh tượng diễn ra trên bình diện thần linh? "trên mây trời" (7,13); 

-    Trên bình diện này không phải xuất hiện một mà hai nhân vật : trước hết là “Đấng Cao niên", tức chính mình Thiên Chúa, ngự  trên ngai như trong các thị kiến của Isaia và  Edêkien (7,9); rồi đến một nhân vật "như một con người”( 7, 13) tiến tới trước Đấng Cao niên ; 

-    Trong các cuộc thần hiện khác, ai đến gần Thiên Chúa cũng sợ sệt và run rẩy (x.Xh 3,6; Is 6,5) nhưng ở đây không thấy nói Con Người có thái độ như vậy; Con Người được đặt ngang hàng với Thiên Chúa. Người tiến lại gần Thiên Chúa và nhận lãnh uy quyền Thiên Chúa (7,14)

Tuy nhiên lời tiên tri vẫn còn tối nghĩa. Đanien không bả
TAGS:
CHIA SẺ BÀI VIẾT