Header

Chú Giải Tin Mừng Chúa Nhật Tuần IV Mùa Chay Năm B (Ga 3,14-21) | Giáo Phận Phú Cường

09/03/2024
975
Thiên Chúa là "Đấng hằng sống" tuyệt vời, sự sống là của quý giá nhất mà con người có thể chiếm hữu. Thiên Chúa đã quyết định thông truyền sự sống của Người, cho người con sự sống thần thiêng và vĩnh cửu ý định "cứu độ phổ quát" của Thiên Chúa thật rõ ràng : Nhưng để công cuộc cứu độ được thành tựu, con người còn phải chấp nhận "ân huệ" đó. Hiển nhiên không thể tưởng tượng được rằng, một người nhất định khước từ Thiên Chúa, lại bị cưỡng chế và áp lực phải sống bên cạnh Người , bất chấp ý muốn của họ.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG
CHÚA NHẬT TUẦN IV MÙA CHAY NĂM B
TIN MỪNG: Ga 3,14-21


Noel Quesson - Chú Giải

Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc...

Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng một lời mời gọi ta “nhìn ngắm", "đưa mắt" hướng lên một hình ảnh. Thánh Gioan sử dụng một hồi tưởng Kinh thánh trong suốt "bốn mươi" năm hành trình trong sa mạc, người Do Thái đã bị một kẻ thù đáng sợ tấn công, đó là loài rắn lửa (Ds 21,6-9). Môsê đã phải làm "một dấu hiệu chữa trị", một con rắn đồng cứu chữa được treo lên một cây gậy. Đó là hình ảnh có tính thần thoại mà các y sĩ ngày nay vẫn tiếp tục sử dụng như là biểu tượng. Kẻ nào quay lại nhìn thì được cứu không phải nhờ điều nó thấy nương nhờ Người, là Đấng cứu chữa mọi người" (Kn 16,7).

Qua sự giải thích trên của sách khôn ngoan, ta đã có thể ghi nhận rằng, đó không phải là một cử chỉ ma thuật, có tính tự động. Cái "nhìn" tự nó không chữa. lành được ai, như một thứ bùa hộ mạng, một vật mang lại may mắn, một cử chỉ dị đoan. Nhưng đó là dấu chỉ "Đức tin", nghĩa là nhờ một cử chỉ bên ngoài, nó cho ta thấy rõ rằng, con người đang "quay về" với Thiên Chúa.

Con người cũng sẽ phải được giương cao như vậy để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời.

Vâng, thánh Gioan đang mời gọi ta nhìn lên thập giá.

Cần phải dám ngắm nhìn "Đấng chịu đóng đinh" đó, Đấng được "giương cao" trước mắt chúng ta, Gioan đã sử dụng từ được giường cao" ("upsothènai" trong tiếng Hy Lạp) để nói lên, Đức Giêsu vừa được "giương cao) trên thập giá, vừa được "đưa lên" ngự bên hữu Chúa Cha nhờ cuộc phục sinh và lên trời (Ga 3,14 - 8,28 - 12,32-34).

Vâng, thánh Gioan không bao giờ có thể quên được ngày đó, cũng như cảnh tượng đó, mà chúng ta như đã quá quen thuộc. Vả lại , Gioan là người duy nhất trong số mười hai Tông đồ đã hiện diện tại đó, vào chiều thứ sáu, dưới chân thập giá. Kể từ lúc đó, trong suốt hơn 70 năm, ông đã suy gẫm "hình ảnh” này, và đây là kết quả của cuộc suy tư lâu dài và sâu sắc mà ông cống hiến cho ta. Đối với Gioan, "Thập giá" và "Phục sinh" thuộc cùng một mầu nhiệm mà ông đã diễn tả bằng một từ mang hai ý Nghĩa : "Đức Giêsu được đưa lên cao khỏi đất". Bị đóng kinh : Cũng có nghĩa là được tôn dương. Đối với Gioan, Thăng thiên đã bắt đầu ngay từ ngày thứ sáu tuần thánh. Còn chúng ta, chúng ta vẫn tiếp tục mong chờ Thiên Chúa biểu lộ "vinh quang" của Người cho ta trong cử chỉ hiển thắng rạng ngời nào đó. Còn Gioan, ông đã chứng kiến cảnh tượng, thì thập giá chính là Vinh quang Thiên Chúa

Ngay khi Giu-đa vừa ra khỏi phòng tiệc ly, Đức Giêsu đã nói : "Giờ đây, Con Người được tôn vinh" (Ga 13,31). Bốn ngày trước đó, vào buổi chiều ngày dân chúng rước lá tôn vinh Người, Đức Giêsu đã nói : "'Đã đến giờ Con Người được tôn vinh... nếu hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. . . phần tôi , một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12,23-32).

Vậy khi đến lượt mình, chúng ta cũng phải chướng mắt nhìn lên Đấng đã được "gương cao" giữa trời và đất, để cầu nguyện. Cái chết tự nguyện này sẽ mãi mãi là "đỉnh cao của tình yêu” : Đỉnh cao của tình yêu Người Con đối với Người Cha và đỉnh cao của tình yêu của Người Anh hoàn vũ đối với những đứa em tội lỗi. Cây thập giá to lớn bằng gỗ đó, đang đeo mang một thân xác con người bị tra tấn đến ứa máu, chính là một "chóp đỉnh của đau đớn" và chết chóc", nhưng cũng là một đỉnh cao của mạc khải Thiên Chúa. Về chưng diện thể lý, ta cần phải mở to đôi mắt để chiêm ngắm hình ảnh này. Nhưng cũng cần phải nhắm mắt lại để "thấy" những gì chưa có thể thấy được, mà cảnh tượng trên mới chỉ là "dấu chỉ" : Tình yêu tuyệt đối đang thiêu đốt tâm hồn con người đó, Đức Giêsu "không ai có tình thương lên hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho hạn hữu (Ga 15,13). Nhưng tình yêu tuyệt đối đã thiêu đốt con người Giêsu, cũng chính là "dấu chỉ” của một tình yêu tuyệt đối khác, tình yêu của Chúa Cha : "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người" (Ga 3,16).

Vì thế, các nghệ sĩ thường muốn trình bày Đức Giêsu trên thập giá với một thứ "vinh quang" nào đó. Hai cánh tay và thân xác của Người, thay vì bị co quắp trong đau đớn khổ hình, lại được trình bày trong tư thế hết sức mềm mại và thoải mái : Tư thế của người cầu nguyện, tư thế của linh mục cầu nguyện và dâng lễ vật nới bàn thờ, tư thế của đôi bàn tay nâng lên để đọc kinh "Lạy Cha".

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình.

Thời đại chúng ta, nhiều người bị thử thách trước một nhận xét đầy bi quan : "Thế gian thật là thối nát. . . không thể làm gì để cứu vãn được . . . '" chúng ta cũng dễ hiểu sự chán nản, . vẻ khó chịu của những người thức thời đứng trước bao cảnh trớ trêu : Bạo lực, bắt cóc các con tin, ích kỷ có tính tập thể và cá nhân, đê tiện đủ loại, cảnh người bóc lột người, sa đọa luân lý, mất lương tâm nghề nghiệp, lạm đụng việc dối trá trong việc phổ biến ý thức hệ hay quảng cáo, đàn áp dư luận quần chúng, tình trạng vỡ mộng... chính Thiên Chúa cũng biết tất cả những sự việc đó ? Tuy thế, Người vẫn yêu mến thế gian này. Người không chịu để sự xấu ác của nó lộng hành. Người muốn cứu độ nó. Thiên Chúa thương đi ngược lại chúng ta. Đối với chúng ta, thế gian này xem ra rất tồi tệ và xấu ác, thế mà Thiên Chúa vẫn yêu thương nó. Thiên Chúa như say mê trước công cuộc tạo dựng chưa hoàn tất của mình, mà Người đang hướng đến nó sự hoàn hảo. Thế gian không thể phi lý. Nếu chúng ta chấp nhận cách nhìn của Thiên Chúa, một "cái nhìn ' yêu thương", thì lúc đó, thay vì tiếp tục rên rỉ kêu than, chúng ta sẽ hiến mạng sống cho anh em.

Người đã ban cho Con Một mình.

Hai động từ diễn tả thái độ của Thiên Chúa : "Yêu và cho" ! Ta hãy cầu nguyện dựa vào những tác động mà hai từ đó gợi lên .

Ta cũng nên lưu ý tĩnh từ được áp dụng cho Đức Giêsu : “ Một" hay "độc nhất" (tiếng Hy Lạp là Monogénes). Từ này chỉ có thánh Gioan sử dụng. Nó được đưa vào trong kinh Tin kính : "Tôi tin Chúa Giêsu Kitô, con một Thiên Chúa" . Tiếng này làm cho chúng ta vượt qua khỏi nhưng vẻ bề ngoài tràn gian, tiến sâu vào các thế giới bên kia : Đức Giêsu là đối tượng tử hệ tuyệt đối độc nhất của Thiên Chúa. Đàng khác, tiếng này cũng nhắc lại một hồi tưởng Kinh thánh. Trong ký ức của ít-ra-en người ta luôn nhớ đến một người ' "con độc nhất khác, được Cha hết sức yêu quý thế mà người cha đầy tình yêu thương này lại chấp nhận một cách kỳ diệu "hy sinh", "ban tặng" đứa con đó : Thánh Gioan nhớ rất rõ câu chuyện Áp-ra-ham và đứa con trai của ông I-sa-ác (St 22,2-16).

Tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian, khiến Người ban tặng "Con Một" người, Gioan sẽ diễn tả tình yêu đó bằng năm kiểu nói... để không ai còn có thể nghĩ ngược lại được : Thiên Chúa không muốn con người phải hư mất..." Người đã tạo dựng mọi sự để tất cả được tồn tại (Kn 1,13).

- Thiên Chúa Muốn Cho con người được sống đời đời...đó là một "sự sống từ Trời" được ban tặng (Ga 3,3).

- Thiên Chúa không muốn kết án thế gian... nghĩa là toàn thể nhân loại.

Thiên Chúa muốn cứu độ thế gian... thánh ý của Thiên Chúa là mọi người đều được cứu độ.

- Công trình của con người cũng là "công trình của Thiên Chúa" (1 Tm 2,4).

Ai tin vào con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.

Thiên Chúa là "Đấng hằng sống" tuyệt vời, sự sống là của quý giá nhất mà con người có thể chiếm hữu. Thiên Chúa đã quyết định thông truyền sự sống của Người, cho người con sự sống thần thiêng và vĩnh cửu ý định "cứu độ phổ quát" của Thiên Chúa thật rõ ràng : Nhưng để công cuộc cứu độ được thành tựu, con người còn phải chấp nhận "ân huệ" đó. Hiển nhiên không thể tưởng tượng được rằng, một người nhất định khước từ Thiên Chúa, lại bị cưỡng chế và áp lực phải sống bên cạnh Người , bất chấp ý muốn của họ. Làm như thế, thì thật sự là tạo một thứ "hỏa ngục". Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng tự do của con người : Kẻ nào không muốn "sự sống" mà Thiên Chúa tặng ban cho mọi người, kẻ đó sẽ ở trong sự chết ? Liệu có một người nào đó khăng khăng chối từ như thế ? Đó là bí mật đáng sợ của cái chết, vào giây phút mà con người được giải thoát khỏi cảnh u tối trần gian, thực sự "đối diện với Thiên Chúa".

Vì Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian. Nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án, nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào Danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án : ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.

Trích đoạn trên làm cho chúng ta khá choáng váng.

Đoạn văn quả quyết hai điều :

- Một là : Thiên Chúa không lên án ai. Người muốn cứu độ tất cả vì Người yêu thương hết mọi người.

- Hai là : Chính con người tự xét xử và lên án mình, khi nó cố chấp khước từ Thiên Chúa.

Như thế, việc "lên án" không phải là một hành vi ở bên ngoài con người. Nhưng trớ trêu thay, nó lại là sự việc của chính con người đó, khi họ có thái độ khước từ tình yêu Thiên Chúa, được biểu lộ trong việc "Con Một của Người hiến thân" cho đến hy sinh thập giá. Chính Thiên Chúa làm mọi sự. Người đã đi đến cùng sự cứu độ. Mọi sự diễn tiến như thể việc "lên án" không thuộc về thế giới Thiên Chúa, nhưng đó là một thực tại ở bên ngoài Vương Quốc : Những kẻ khước từ ánh sáng "diện kiến" tự kết án mình trở thành một thế giới "ở bên ngoài " Thiên Chúa . . . một thế giới chết chóc, một thế giới không có sự sống đời đời.

Chúng ta cần ghi nhận rằng, "bi kịch của thái độ vô tin" không chỉ là một vấn đề hiện tại. Nó xuất hiện ngay giữa Tin Mừng. Nếu ta muốn kéo dài sứ vụ của Đức Giêsu, thì chúng ta không được phép lên án ai, mà phải ước muốn cứu giúp mọi anh em minh, phải làm tất cả để đạt được điều đó. Ai xét xử anh em mình, thì làm điều trái ngược Thiên Chúa. . . kẻ đó tự đặt mình ra ngoài thế giới của Thiên Chúa "Đấng không đến để xét xử".

Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : "Mọi việc họ làm đều hợp ý Thiên Chúa".

Sau hết, niềm vui của "tín hữu' là hưởng trước những gì sẽ là niềm vui vĩnh cửu được diện kiến với Thiên Chúa. Đối với họ, sự sống đời đời đã khởi sự. Họ đã nhận biết tình yêu Thiên Chúa đối với mọi người Họ sống tình yêu đó mỗi ngày. Họ không ngừng tạ ơn tình yêu đó... và "sự sống vĩnh cửu này đã khởi sự, đó là một sự sống đầy sinh động. Các Kitô hữu từ lâu đã thường nói đến sự sống vĩnh cửu nhờ một thứ ngôn ngữ và những hình ảnh gần với Niết bàn (nirvầna) của Phật giáo hơn là quan niệm của thánh Gioan : Đó là một "sự nghỉ ngơi đời đời ?". Đối với Tin Mừng thứ tư, đó là một "sự sống vĩnh cửu”, tràn đầy sinh động và niềm vui. Chớ không phải là một sự nghỉ ngơi tẻ nhạt. Ở đấy, theo văn bản Hy Lạp, Gioan đã nói : "Kẻ nào hành động theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng" . Sống là “hành động" ! Đó là những "hành động", những "việc làm"; những "công trình". Và đây là điều làm ta ngỡ ngàng : Lúc đó, những "việc làm của con người" cũng được công nhận như nhưng "việc làm của Thiên Chúa”. Đó là cuộc sống vĩnh cửu.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến

để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ "

BÀI TIN MỪNG : Ga 3, 14 - 21

I . Ý CHÍNH :

Bài Tin Mừng hôm nay thánh Gioan kể lại những lời giải thích về ơn tái sinh cho Nicôđêmô là người Biệt phái có thiện cảm với Chúa Giêsu . Ơn tái sinh là tin vào Chúa Giêsu Kitô để được ơn cứu độ .

II . SUY NIỆM :

Trong cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô ( Ga 3, 1 - 21 ) . Chúa Giêsu đã giải thích về ơn tái sinh và về ơn cứu chuộc, thánh sử Ga 3, 14 - 21 ghi lại những giáo lý Chúa Giêsu đã nói trong cuộc đàm đạo đó .

1 / " Như Môsê đã treo con rắn lên ..." :

+ Việc xảy ra trong Cựu ước thường là biểu hiện cho Tân ước . Xưa kia trong sa mạc Môsê treo con rắn đồng lên và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn vào con rắn đồng ấy thì được khỏi chết ( Ds 21, 8 - 9 ) .

+ Nay, thời Tân ước, những ai nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh, và tin vào Người, thì cũng khỏi chết phần hồn và được sống đời đời .

2 / " Vì Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ... " :

Chúng ta nhận ra rằng :

+ Nguồn gốc phát sinh ơn cứu độ là tình thương yêu của Thiên Chúa . Tình thương yêu này được biểu lộ qua việc trao ban Chúa Con cho thế gian .

+ Điều kiện đón nhận ơn cứu độ là tin vào Chúa Giêsu Kitô, Con của Chúa Cha .

+ Như vậy đối tượng tình thương yêu của Chúa là thế gian, thế gian được hiểu là tất cả thế giới thụ tạo và nhất là thế giới con người .

3 / " Vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt ... " :

+ Chúa Giêsu có quyền xét xử thế gian ( Mt 15, 31 - 40 ; Ga 5, 22 - 27 ) : nhưng mục đích của Người được sai đến thế gian là để thế gian nhờ Người mà được cứu độ .

+ Nhờ Con Người : nhờ ai thì phải lệ thuộc vào điều kiện của người đó . Điều kiện để nhờ người là tin vào Người .

4 / " Ai tin Người Con ấy thì không bị luận phạt " :

+ Tin có nghĩa là sống theo Chúa trong tình trạng ơn thánh sủng, hay nói cách khác là sống trong ơn nghĩa Chúa, thì sẽ không bị luận phạt, không chết trong tình trạng của tội .

+ Ai không tin thì đã luận phạt rồi :

Không tin là từ chối Chúa, không sống trong ơn nghĩa Chúa thì đã bị luận phạt rồi .

Điều này cho chúng ta thấy rằng đây không phải là một án phạt do một quan toà xét xử để trừng trị một tội phạm, nhưng là một tình trạng xuất phát từ sự lựa chọn của con người khi đối diện với hồng ân của Thiên Chúa . Chẳng phải Thiên Chúa tuyên án và bắt con người phải hư vong, nhưng là chính con người tự kết án mình khi con người từ chối Chúa .

5 / " Án phạt là : sự sáng đã đến thế gian ..." :

Chúa Giêsu là ánh sáng, là chân lý, là sự sống đã đến thế gian .

+ Người đời yêu sự tối tăm hơn sự sáng : con người yêu chiều sống theo tội lỗi hơn là sống theo Chúa Kitô .

+ Vì hành động của họ xấu xa : lý do vì con người sống theo những hành động xấu xa của ma quỷ, hận thù, dối trá ... điều này cho ta thấy những nết xấu và tội lỗi của con người đã làm cho con người ra chai đá cứng lòng tin .

6 / " Ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng " :

Bóng tối không thể tồn tại khi có ánh sáng, vì thế người yêu thích những hành động xấu của tội lỗi thì ghét bỏ ánh sáng là đường lối của Chúa không dám đến với Chúa, không ưa sống theo luật lệ và tinh thần của Chúa .

+ Sợ việc làm của mình bị khiển trách : lý do tội nhân không trở lại với Chúa vì họ sợ bị vạch trần và sợ tội lỗi bị phát giác : con người nhận số phận theo sự chọn lựa của mình .

+ Ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự ánh sáng . Những người sống trong chân lý nghĩa là sống lương thiện cùng ngay chính thật lòng tìm kiếm sự thật và quyết tâm đi theo ánh sáng tức là đường lối của Chúa thì sẽ đạt đến Đức Kitô là ánh sáng là sự sống .

III . ÁP DỤNG THỰC HÀNH :

Bài Tin Mừng này giúp chúng ta sống tinh thần mùa chay bằng cách tin và sống theo Chúa Kitô .

+ Tin vào tình yêu thương của Chúa muốn cứu rỗi ta .

+ Sống theo Chúa Kitô chịu chết, chết cho con người tội lỗi, nết xấu, bất toàn của mình . Sống theo Chúa Kitô phục sinh, sống hoà thuận trong tình yêu mến Chúa và yêu tha nhân .

+ Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình để tất cả những ai tin thì không hư mất, nhưng được sống đời đời : tình yêu của ta đối với tha nhân cũng phải được chứng thực bằng việc làm cụ thể, sẵn sàng ban phát ý riêng, tài năng, sức khoẻ, vật chất, để đem hạnh phúc cho tha nhân .

+ Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt ... chúng ta không nên sử dụng những gì Chúa ban như sức khỏe, tài năng, vật chất, địa vị, để gây hại cho tha nhân, nhưng để phục vụ và thăng tiến cho tha nhân .

+ Ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự sống . Khi nào chúng ta thao thức và quyết tâm sống theo tinh thần của Chúa Kitô thì chúng ta cảm thấy yêu mến và cố gắng tìm gặp Chúa, học hỏi về Chúa và sống Lời Chúa mỗi ngày .

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN

Địa chỉ: Số 06, Tôn Đức Thắng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh

Copyright © CHỦNG SINH KHÓA 10

CHIA SẺ BÀI VIẾT