Header

Đường hướng canh tân Huấn Giáo tại Việt Nam

Bài viết đề cập đến đường hướng canh tân huấn giáo tại Việt Nam, dựa trên Hướng dẫn Tổng quát việc dạy giáo lý của Hội Đồng Giám mục Việt Nam. Nội dung nhấn mạnh việc thích nghi với bối cảnh xã hội, kinh tế và văn hóa, Đồng thời chú trọng đến người trẻ, di dân và các vấn đề hiện đại như giới tính, hôn nhân. Bài viết cũng nêu thực trạng và thách thức trong việc huấn giáo tại Việt Nam.

GIÁO LÝ

ĐƯỜNG HƯỚNG CANH TÂN HUẤN GIÁO TẠI VIỆT NAM

Sau khi Hội đồng Tòa thánh cổ vũ Tân Phúc âm hóa đã phát hành HƯỚNG DẪN DẠY GIÁO LÝ 2020, nhấn mạnh đến hướng đi loan báo Tin mừng và thời đại kỹ thuật số. HĐGM Việt Nam dựa vào những nguyên tắc chung của Tòa thánh để áp dụng cho hoàn cảnh Việt Nam và đang cho thử nghiệm HƯỚNG DẪN DẠY GIÁO LÝ TẠI VIỆT NAM. Một số thống kê cần cập nhật.

ĐƯỜNG HƯỚNG CANH TÂN HUẤN GIÁO TẠI VIỆT NAM

Sau khi đã tìm hiểu đường lối canh tân huấn giáo chung của Hội thánh và của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, chương này chúng ta tìm hiểu về đường hướng canh tân huấn giáo tại Việt Nam, chúng ta sẽ dựa vào Hướng dẫn Tổng quát việc dạy giáo lý tại Việt Nam[1].  Trong đó, các giám mục mời gọi chúng ta nhìn đến bối cảnh xã hội và huấn giáo tại Việt Nam trong cái nhìn của Chúa Giêsu để chia sẻ niềm vui và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của người Việt Nam và đề nghị những giải đáp giúp cho việc thực hành huấn giáo tại Việt Nam mang lại kết quả tốt đẹp.

I. THỰC TRẠNG XÃ HỘI

Trong phần này chúng ta chỉ lướt qua một số điểm chính vì nhiều chi tiết đã trình bày ở Chương 3: Huấn giáo trước những thách đố hiện nay trên thế giới và Việt Nam.

1. Về dân số

Dân số Việt Nam theo thống kê 2016 là 95 triệu người[2], đa số là người trẻ chiếm 43,7% trên cả nước, như vậy cứ hai người lao động mới có một người phụ thuộc. Việt Nam xếp thứ 14 trong các nước đông dân nhất thế giới và thứ 3 so với các nước Đông Nam Á.

Vì thế chính quyền nỗ lực kiểm soát dân số qua những biện pháp như triệt sản, ngừa thai, phá thai, v.v. Tỉ lệ giới tính trẻ em mất cân bằng. Tình trạng chuyển giới và đồng tính có xu hướng gia tăng.

Giáo hội cần quan tâm đến người trẻ và huấn luyện cho họ về các vấn đề như tôn trọng và bảo vệ sự sống, ý nghĩa và giá trị của phái tính, hôn nhân và gia đình.

Những điều này cần phải có trong chương trình giáo lý hôn nhân.

2. Về kinh tế

Hiện nay nhờ tham gia các tổ chức trong khu vực như ASIAN hay quốc tế như Thương mại thế giới (WHO), nền kinh tế thị trường của Việt Nam có những bước phát triển nhất định, người dân được tiếp cận với những thông tin và thành quả đa dạng về khoa học kỹ thuật giúp tạo ra phong thái làm việc mới.[3]

Tuy nhiên nhiều thiếu sót trong vấn đề vận hành kinh tế đã gây ra những chính sách bất cập, chưa nghiêm minh tạo ra thiểu số đặc quyền, sự chênh lệch giầu nghèo, nạn tham những tràn lan, làn sóng di dân gia tăng… lối sống ích kỷ và thiếu quan tâm đến công ích.[4]

Thực trạng này đặt ra các vấn đề như đạo đức và lương tâm, dấn thân xây dựng xã hội công bằng, bảo vệ môi trường, đối thoại với người nghèo, tạo điều kiện cho di dân tham gia vào đời sống và sinh hoạt của xã hội và Hội thánh.

Huấn giáo không thể không quan tâm đến những khía cạnh xã hội này. Nhiều nơi phải mở các lớp giáo lý thích hợp với hoàn cảnh và con số những người di dân gia tăng và đào tạo những giáo lý viên hoàn cảnh.[5]

LM Giuse Nguyễn Văn Thịnh



[1] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hướng Dẫn Tổng Quát Việc Dạy Giáo Lý Tại Việt Nam, 2017, tài liệu nội bộ Ủy Ban Giáo lý toàn quốc. Tài liệu này đã trình lên HĐGM và đang được thử nghiệm.

[2] HĐGMVN, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2016, Hà Nội, Tôn giáo, 2016, tr. 481.

[3] HĐGMVN, Thư Chung Hậu Đại hội Dân Chúa 2010 gửi toàn thể cộng đồng Dân Chúa Việt Nam. Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống, 6.

[4] Nt, 6.

[5] Những giáo lý viên thích hợp với giờ giấc linh động của những người di dân, vì nếu theo giờ truyền thống của giáo xứ, những người di dân này không thể theo học được.

CHIA SẺ BÀI VIẾT