Header

Sứ vụ môn đệ truyền giáo di dân: Cơ hội và thách thức với di dân Công giáo Việt Nam tại Châu Á

Bài viết suy tư về tầm nhìn truyền giáo và giáo hội học của Đức Giáo hoàng Phanxicô trong bối cảnh di dân, đặc biệt nơi người Việt tại châu Á. Qua việc phân tích cơ hội và thách đố tại Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Thái Lan, tác giả gợi mở con đường để di dân sống căn tính môn đệ truyền giáo trong một Giáo hội “đi ra”.
LOAN BÁO TIN MỪNG
SỨ VỤ MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO DI DÂN: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI
DI DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI CHÂU Á

DẪN NHẬP

I. DI DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI CHÂU Á

II. CƠ HỘI CHO MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO DI DÂN

1. Tình trạng Giáo hội ở các nước sở tại

2. Những đặc điểm thuận lợi nơi di dân Việt Nam

3. Những đóng góp truyền giáo tiềm năng của di dân Công giáo Việt Nam

3.1. Trở nên hiện thân của các giá trị cốt lõi của sứ vụ loan báo Tin mừng

3.2. Loan báo Tin mừng trong cộng đoàn di dân

3.3. Loan báo Tin mừng vượt ra ngoài cộng đoàn

4. Những thách đố với môn đệ truyền giáo di dân

4.1. Giáo hội tiếp nhận

4.2. Giáo hội sai đi

4.3. Linh hướng mục vụ di dân

4.4. Di dân Việt Nam

III. HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI

1. Giáo hội sai đi

2. Giáo hội tiếp nhận

3. Linh hướng mục vụ di dân

4. Cơ chế phối hợp

KẾT LUẬN

DẪN NHẬP

Trong Tông huấn Evangelii Gaudium – Niềm vui của Tin mừng, Đức Giáo hoàng Phanxicô trình bày tầm nhìn về một Giáo hội cởi mở và hòa nhập vào thế giới, một Giáo hội “đi ra” với sứ mạng thấm đẫm ý thức môn đệ truyền giáo (EG, số 20–24). Ngài khẳng định: loan báo Tin mừng không chỉ là trách nhiệm của số ít được chọn, mà là sứ mạng chung của mọi người đã được rửa tội (EG, số 120). Môn đệ truyền giáo định nghĩa đời sống Kitô hữu như một sự tương tác năng động của đức tin, chứng tá và sứ vụ, mỗi chức năng đan xen không thể tách rời. Qua bí tích Rửa tội, người Kitô hữu được tháp nhập trọn vẹn vào Thân Mình Đức Kitô. Bí tích này ban cho các tín hữu căn tính của người môn đệ Chúa Kitô với nhiệm vụ loan báo Tin mừng cho thế giới. Đời sống Kitô hữu được nuôi dưỡng và biến đổi nhờ những cuộc gặp gỡ với tình yêu Thiên Chúa trong Chúa Kitô, và sự biến đổi cách tự nhiên này tuôn chảy vào trong sứ vụ. Bởi vậy, mỗi Kitô hữu là một nhà truyền giáo, không do sự bổ nhiệm, mà bởi bản chất đức tin họ đã lãnh nhận. Là môn đệ cũng là nhà truyền giáo; cả hai không thể tách biệt.

Jehu Hanciles trong quyển Kitô giáo trong dòng di dân: Góc nhìn toàn cầu khẳng định: “Mỗi tín hữu di dân đều là một nhà truyền giáo tiềm năng”.[1] Theo Hanciles: “Kitô giáo là tôn giáo di cư, và các phong trào di cư là yếu tố quan trọng trong việc mở rộng Kitô giáo”.[2] Nghiên cứu của ông khám phá mối tương quan chủ yếu giữa di cư và sứ vụ trong lịch sử phát triển Kitô giáo. Hanciles lập luận rằng: có “mối liên kết không thể tách rời giữa di cư và sứ vụ trong kinh nghiệm Kitô giáo”.[3]

Từ các cuộc truyền giáo của các Tông đồ và các nhà truyền giáo thời sơ khai cho đến các cuộc di dân quy mô lớn do biến động chính trị và sự trỗi dậy của chủ nghĩa thực dân, lịch sử Kitô giáo luôn gắn liền mật thiết với sự di chuyển của con người từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ lục địa này sang lục địa khác và từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác. Lịch sử di dân trong Giáo hội có thể được phân chia thành nhiều làn sóng nối tiếp nhau, bắt đầu bằng sự lan rộng của Kitô giáo, từ một hệ phái nhỏ của Do thái giáo thành một tôn giáo toàn cầu, chủ yếu do các cuộc di cư của người Do Thái đến làn sóng di dân quốc tế gần đây nhất, xuất phát từ một loạt các nguyên nhân như bạo lực chính trị, bách hại tôn giáo, khó khăn kinh tế và biến đổi khí hậu.[4],[5] Nếu mỗi Kitô hữu di dân đều là một nhà truyền giáo tiềm năng, thì hiện tượng di dân sẽ mở ra những cơ hội và triển vọng lớn lao cho sứ vụ loan báo Tin mừng của Hội thánh trên thế giới. Khi Kitô hữu di cư đến vùng đất mới, dù trong nước hay ngoài nước, họ không chỉ mang theo khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, mà còn đem theo cả văn hóa và niềm tin tôn giáo của mình nữa.[6]

Cách tiếp cận mẫu mực của Đức Giáo hoàng Phanxicô về “môn đệ truyền giáo” được áp dụng cách trọn vẹn nơi người Kitô hữu di dân, bởi vì lịch sử phát triển của Giáo hội đã minh chứng rõ ràng vai trò to lớn của di dân trong việc truyền bá đức tin.

Giữa các cuộc di dân, sự thích nghi và tương tác văn hóa, các Kitô hữu di dân mang trong mình lời mời gọi truyền giáo bằng cách làm chứng cho Tin mừng qua đời sống hằng ngày, những tương tác và sự kiên trì. Theo Đức Giáo hoàng Phanxicô: “Sự xuất hiện của những di dân và người tị nạn Công giáo có thể tiếp thêm sinh lực cho đời sống Giáo hội nơi các cộng đoàn chào đón họ. Nhiều khi, họ đem đến sự nhiệt thành có thể hồi sinh các cộng đoàn và làm sống động các buổi cử hành của chúng ta. Việc chia sẻ những hình thức biểu lộ đức tin và lòng đạo đức khác nhau đem đến cho chúng ta một cơ hội có một không hai để trải nghiệm trọn vẹn hơn tính công giáo của Dân Chúa”.[7]

Suy tư về tầm nhìn truyền giáo và giáo hội học của Đức Giáo hoàng Phanxicô về môn đệ truyền giáo trong bối cảnh di dân, trong bài viết này, tác giả sẽ khảo sát khái niệm về “môn đệ truyền giáo di dân”. Cách đặc biệt, người viết sẽ tập trung vào bối cảnh di dân Việt Nam tại châu Á bằng việc tập trung vào Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Thái Lan. Ở đây, chúng ta sẽ đi sâu vào những cơ hội cũng như những thách thức mà các di dân Việt Nam phải đối diện khi mang sứ mạng môn đệ truyền giáo di dân tại các nước này. Nhờ xem xét cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng, dù di dân Việt Nam có tiềm năng lớn để sống trọn vẹn vai trò môn đệ truyền giáo di dân nơi xứ người, nhưng vẫn còn nhiều thách đố cần phải vượt qua để tầm nhìn của Đức Giáo hoàng Phanxicô về một Giáo hội “đi ra” có thể trở thành hiện thực.

I. DI DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI CHÂU Á

Người Công giáo Việt Nam bắt đầu di cư ra nước ngoài từ đầu thế kỷ XVIII, họ chạy trốn sang Xiêm (Thái Lan ngày nay) để tránh các cuộc bách hại tôn giáo.[8] Trong ba thế kỷ tiếp theo, có nhiều làn sóng di cư liên tiếp của người Công giáo Việt Nam sang các nước láng giềng cũng như đến Bắc Mỹ, châu Âu và Úc do bách hại tôn giáo và xung đột chính trị. Làn sóng di cư lớn nhất phải kể đến là những năm sau năm 1975, có cả hàng trăm ngàn người di cư bằng nhiều con đường khác nhau. Bước sang thiên niên kỷ mới, một xu hướng di cư khác đã xuất hiện, bao gồm những phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài (đặc biệt tại Đài Loan và Hàn Quốc), cả chính thức và chưa chính thức. Ngày nay, yếu tố kinh tế chiếm ưu thế, do nhiều người Việt Nam tìm cơ hội việc làm tốt hơn và mức sống cao hơn ở nước ngoài.[9] Tôn giáo đóng vai trò ít nổi bật hơn trong các quyết định di cư ở hoàn cảnh hiện tại.

Trong khi các nước phương Tây cũng có tiếp nhận di dân Việt Nam thuộc nhóm nhân khẩu học này, nhưng điểm đến phổ biến và dễ tiếp cận nhất cho di dân Việt Nam là các nước châu Á như Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Công dân Việt Nam là nhóm lao động nước ngoài lớn nhất tại Nhật Bản, với khoảng 520.000 người tính đến tháng 10 năm 2023. Con số này đã tăng đáng kể trong những năm gần đây do nhu cầu lao động của Nhật Bản trong các lĩnh vực khác nhau. Số lượng người Việt Nam, bao gồm cả sinh viên đã lên đến gần 600.000.[10]

Trong khi đó, chính phủ Đài Loan báo cáo rằng: vào năm 2023, có khoảng 110.000 cuộc hôn phối giữa người Đài Loan với người Việt Nam, 100.000 con của những người này, 250.000 người Việt có thị thực lao động nước ngoài và hơn 20.000 sinh viên Việt Nam.[11] Lao động Việt Nam chiếm 35% trong số 700.000 lao động nước ngoài ở nước này.[12]

Bên cạnh Nhật Bản và Đài Loan, Hàn Quốc cũng trở thành một điểm đến phổ biến của công dân Việt Nam, làm thành một cộng đồng đáng kể gồm lao động nhập cư, sinh viên và hôn phối. Hiện tại ở Hàn Quốc, cộng đồng Việt Nam gần đến 300.000 người,[13] khiến họ trở thành nhóm dân nước ngoài lớn nhất sau người Trung Quốc.[14]

Tại Đông Nam Á, Thái Lan là điểm đến phổ biến của lao động di dân Việt Nam vì điều kiện thuận lợi như sự thuận tiện đi lại giữa hai nước, sự dễ dàng tiếp cận với tư cách là công dân ASEAN.[15] Hầu hết tất cả lao động di dân Việt Nam vào Thái Lan theo diện du lịch, sau đó họ tiến hành tìm kiếm việc làm.

Mặc dù không có thống kê cách chính thức vì lý do không có giấy tờ của lao động di dân Việt Nam tại Thái Lan, nhưng người ta phỏng đoán rằng con số dao động trong khoảng từ 30.000 đến 50.000 tùy thuộc vào thời điểm trong năm và tình hình kinh tế tại Vương quốc. Bên cạnh bốn quốc gia châu Á kể trên, di dân Việt Nam cũng có mặt ở các quốc gia khác bao gồm Trung Quốc, Lào, Campuchia, Philippines, Malaysia, Ma Cao và Singapore, mặc dù với số lượng thấp hơn nhiều. Thật đáng tiếc, hiện tại không có số liệu thống kê nào đáng tin cậy hoặc cập nhật cho các quốc gia này.

Như đã nói ở trên, động lực chính cho việc di cư của người Việt Nam, đặc biệt là các điểm đến tại châu Á, được thúc đẩy bởi yếu tố kinh tế hơn là yếu tố tôn giáo. Tuy nhiên, đức tin vẫn là một phần không thể thiếu nơi bản sắc người di dân, vì mọi người đều mang theo niềm tin tôn giáo bên mình đến mọi nơi họ tới. Theo thống kê của chính phủ Việt Nam, hiện có khoảng sáu triệu người Việt đang sống và làm việc trên hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.[16] Thống kê bao gồm cả Việt kiều - những di dân Việt Nam rời đất nước trước hoặc sau năm 1975 và đã định cư lâu dài trên quê hương mới của mình. Cộng đồng người Việt Nam lớn nhất là tại Hoa Kỳ, nơi sinh sống của 2,1 triệu người Việt Nam. Đáng chú ý, có khoảng 700.000 người Công giáo, chiếm tỷ lệ cao hơn đáng kể so với tại Việt Nam, nơi người Công giáo chiếm khoảng 8% dân số.[17] Sự khác biệt này phần lớn là do sự di cư của người Công giáo sau năm 1975. Một mô hình tương tự cũng được nhìn thấy ở tại Úc, nơi người Công giáo chiếm khoảng 20% trong cộng đồng gần 300.000 người Việt Nam.[18]

Ước tính rằng cộng đồng người Công giáo Việt Nam trên toàn cầu có hơn một triệu người. Con số này dựa trên số người Công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ (700.000 người), cộng thêm 10% trong số bốn triệu người Việt Nam còn lại ở nước ngoài (tức là 400.000 người).

Tại châu Á, tổng số lao động nhập cư, sinh viên, hôn phối và con cái của họ tại Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Thái Lan tổng cộng gần 1,5 triệu người. Giả sử một con số người Công giáo tương tự là 10% trong số di dân tại châu Á này, thì có khoảng 150.000 di dân Công giáo Việt Nam đang cư trú ở bốn quốc gia này. Theo quan điểm rằng những người di cư có thể được coi là những nhà truyền giáo tiềm năng, hoặc “môn đệ truyền giáo” như Đức Giáo hoàng Phanxicô xác nhận, 150.000 cá nhân này đại diện cho một nhóm đáng kể các nhà truyền giáo tiềm năng trong các quốc gia nơi họ đang sinh sống.

II. CƠ HỘI CHO MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO DI DÂN

Trong phần này, chúng ta thảo luận tại sao con số 150.000 di dân Công giáo Việt Nam ở bốn quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan có ý nghĩa quan trọng trong tầm nhìn môn đệ truyền giáo của Đức Thánh Cha Phanxicô.

1. Tình trạng Giáo hội ở các nước sở tại

Tại Nhật Bản, người Công giáo chiếm thiểu số, ước tính khoảng 431.100 người, chiếm 0,34% dân số.[19] Số người Công giáo của Đài Loan tính đến năm 2022 là 226.589 người, chiếm 0,7% tổng dân số.[20] Tại Thái Lan, người Công giáo chiếm thiểu số, với ước tính có 388.000 người, chiếm khoảng 0,58% dân số.[21] So với ba quốc gia trên, Hàn Quốc tự hào có cộng đồng Công giáo lớn hơn nhiều, ước tính khoảng 5,9 triệu tín hữu, tương đương khoảng 11,3% tổng dân số.[22] Tuy nhiên, xét theo tất cả các tiêu chuẩn, vẫn là một Giáo hội tương đối nhỏ.

Ngoài quy mô nhỏ, những Giáo hội ở các quốc gia này cũng đang đối phó với tình trạng dân số già. Giáo hội Công giáo ở Nhật Bản đang trải qua sự già hóa đáng lưu tâm ngay trong các cộng đoàn, nó phản ánh xu thế nhân khẩu học chung của đất nước. Sự già hóa này đi kèm với tỷ lệ sinh giảm, làm cho vấn đề ngày càng thêm trầm trọng. Khi các thành viên lớn tuổi qua đời và ít người trẻ đến nhà thờ hơn, tính bền vững của các giáo xứ và cộng đoàn trở thành mối bận tâm.[23]

Giáo hội ở Đài Loan cũng gặp phải một vấn đề tương tự như Nhật Bản. Cha Antôn Phạm Trọng Quang, SVD, báo cáo rằng: tại giáo xứ Chính tòa của Giáo phận Gia Nghĩa (嘉義教區), nơi ngài từng phục vụ, trong số hơn 2.000 giáo dân đã đăng ký, chỉ khoảng 200 người tham dự Thánh lễ Chúa nhật. Ngài nhận xét: “Một thực trạng phổ biến ở nhiều nhà thờ Công giáo tại Đài Loan là phần lớn người tham dự đều đã lớn tuổi, trong khi giới trẻ vắng bóng”.[24] Điều này phản ánh thực trạng tỷ lệ sinh thấp tại Đài Loan. Dữ liệu từ Cục Đăng ký hộ khẩu thuộc Bộ Nội vụ Đài Loan cho thấy tổng tỷ lệ sinh tại quốc đảo này với phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi đã giảm liên tục, từ 1,06% vào năm 2018 xuống còn 0,865% vào năm 2023.[25]

Trong khi Giáo hội Công giáo ở Hàn Quốc đã chứng kiến sự tăng trưởng trong những thập kỷ gần đây, cũng không tránh khỏi xu hướng già hóa. Khi dân số già đi, Giáo hội phải tìm cách thu hút các thế hệ trẻ và bảo đảm sự tham gia liên tục của họ. Điều này rất quan trọng cho việc duy trì sức sống của Giáo hội và vai trò của nó trong xã hội Hàn Quốc. Những vấn đề tương tự liên quan đến già hóa trong Giáo hội có thể được chứng kiến tại Hàn Quốc; điều này phản ánh xu hướng chung của xã hội. Một bài báo trên CNA năm 2020 cho biết rằng: cứ 5 người Công giáo Hàn Quốc thì có 1 người trên 65 tuổi, và người Công giáo từ 19 tuổi trở xuống chỉ chiếm 8,5%.[26] Trong khi mức sinh thay thế là 2,1 thì tỷ lệ sinh năm 2023 tại Hàn Quốc chỉ đạt 0,72 trên một phụ nữ; đây là tỉ lệ thấp nhất được ghi nhận, còn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ sinh tại Nhật Bản, là 1,2.[27]

Tình hình ở Thái Lan cũng đáng lo âu không kém. Theo dữ liệu từ Trường Quản lý Sasin của Đại học Chulalongkorn, tỷ lệ sinh của Thái Lan đã giảm 81% trong 74 năm qua, đứng thứ ba thế giới về chỉ số này. Chỉ có Hàn Quốc và Trung Quốc chứng kiến sự sụt giảm mạnh hơn, là 88% và 83% trong cùng giai đoạn.[28]

Ngoài vấn đề già hóa, Giáo hội ở các nước sở tại đang trải qua nhiều mức độ thế tục hóa khác nhau.[29],[30] Trong cuốn sách Không nghi ngờ gì nữa: Sự tục hóa của xã hội của Isabella Kasselstrand, Phil Zuckerman và Ryan T. Cragun lập luận rằng: trong khi Hàn Quốc trải qua thời kỳ phát triển Kitô giáo đan xen với sự hiện đại hóa nhanh chóng và phương Tây hóa từ những năm 1980 đến đầu những năm 2000, đất nước này hiện đang trải qua quá trình tục hóa.

Trước hết, sự tăng trưởng này, đặc biệt từ năm 1982 đến năm 2005, nơi số người không tôn giáo giảm trong khi tỷ lệ Công giáo và Tin lành gia tăng được một số người giải thích là mâu thuẫn với lý thuyết thế tục hóa. Với một số người, việc đón nhận Kitô giáo có liên hệ đến khát vọng thịnh vượng phương Tây. Tuy nhiên, những xu hướng gần đây cho thấy sự suy giảm rõ rệt về tôn giáo, đặc biệt nơi các thế hệ trẻ khi họ chứng kiến các tổ chức tôn giáo thiếu chuẩn bị cho việc giải quyết các vấn nạn ngày nay. Trong số những người sinh sau năm 1990, chỉ có 17,6% tham dự các nghi lễ tôn giáo ít nhất một tháng một lần. Sự suy giảm này được chứng minh thêm bởi sự trì trệ nơi các siêu nhà thờ Tin Lành (megachurches), cùng với sự suy giảm niềm tin vào các tổ chức tôn giáo sau các vụ bê bối. Hàn Quốc nổi bật trên phạm vi toàn cầu với tỷ lệ cao những người vô thần xác tín (54,9% năm 2018) và những người không tin vào Thượng đế (59,4% năm 2018).[31] Thuộc về tôn giáo không còn là điều thiết yếu trong căn tính của nhiều người Hàn Quốc, và niềm tin vào các khái niệm tôn giáo truyền thống, chẳng hạn như sự sống sau cái chết đã giảm sút đáng kể, từ 52,2% vào năm 1982 xuống còn 33,7% vào năm 2018.

Sự phát triển ban đầu của Kitô giáo dường như gắn liền với khát vọng hướng đến bản sắc phương Tây trong tiến trình hiện đại hóa, và khi quá trình hiện đại hóa thành tựu, Kitô giáo hiện đang trên đà suy giảm.[32] Những điều các tác giả khẳng định cũng được chứng thực bởi nghiên cứu của Sam Hyun Yoo và Victor Agadjanian rằng: “Kể từ những năm 2000, những người không theo tôn giáo nào có xu hướng trẻ hơn, nam giới và dân thành thị thường chấp nhận lối sống cá nhân”.[33] Thực tại thế tục hóa này đã được trích dẫn như một lý do cho sự suy giảm ơn gọi tu trì được chứng kiến tại Hàn Quốc trong những năm gần đây.[34]

Mặc dù Kasselstrand và cộng sự không bàn luận sâu về trường hợp của Nhật Bản, song họ khẳng định rằng: “Quá trình tục hóa diễn ra khi người ta đơn giản là tự quyết định ngừng sống đạo. Và đó chính là kiểu thế tục hóa mà hiện nay chúng ta đang chứng kiến trên toàn thế giới, từ Canada và Uruguay đến Đức và Nhật Bản”.[35] Cần lưu ý rằng hiện tượng thế tục hóa trong trường hợp của Nhật Bản là một vấn đề gây nhiều tranh luận, với các học giả như José Casanova phản bác lại lý thuyết thế tục hóa tiêu chuẩn, vốn dự đoán rằng tôn giáo sẽ suy giảm trong các xã hội hiện đại. Dù thừa nhận rằng Nhật Bản mang tính thế tục ở khía cạnh tách biệt giữa tôn giáo và nhà nước cũng như trong hệ thống giáo dục, Casanova cho rằng xã hội Nhật Bản vẫn cởi mở và tiếp nhận nhiều tôn giáo khác nhau. Theo Casanova, sử cởi mở này đối với tâm linh thách thức giả định từ thời Khai sáng cho rằng hiện đại hóa tất yếu dẫn đến sự suy tàn của tôn giáo.[36] Rodney Stark, khi viện dẫn sự phổ biến của các nghi lễ Thần đạo trong xã hội Nhật Bản đương đại, cũng phủ nhận rằng đất nước này đang trải qua quá trình thế tục hóa.[37]

Mặc dù đi sâu vào các lý thuyết thế tục hóa trong các bối cảnh cụ thể nằm ngoài phạm vi của bài viết này, nhưng điều không thể phủ nhận là tại Nhật Bản, việc tham dự Thánh lễ chủ yếu được ghi nhận nơi những người cao tuổi, và nhiều người trong số họ đã gần đất xa trời. Nếu không có những người trẻ gia nhập Giáo hội, số lượng người Nhật bản địa trong Giáo hội đang giảm dần một cách đều đặn. Trên thực tế, phần lớn tín hữu Công giáo tại Nhật Bản ngày nay xuất phát từ cộng đồng di dân.[38]

Trường hợp của Thái Lan có phần khác biệt so với các nước Đông Á. Thái Lan vẫn là một xã hội chịu ảnh hưởng tôn giáo sâu đậm, với khoảng 90% dân số theo Phật giáo,[39] thường pha trộn với các tín ngưỡng dân gian như niềm tin vào thần thánh, linh hồn và ma quỷ. Người Hồi giáo và Kitô giáo chiếm phần lớn trong số còn lại. Mặc dù có thể lập luận rằng các giá trị thế tục đang ngày càng hiện diện rõ nét hơn trong xã hội Thái Lan, nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng đây là một nền văn hóa thế tục. Vì thế, Giáo hội tại Thái Lan không bị ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa thế tục mà bởi môi trường tôn giáo không Công giáo; điều này gây khó khăn cho người Công giáo, đặc biệt là giới trẻ trong việc trung thành với truyền thống tôn giáo của mình. Mặc dù không có số liệu thống kê chính thức, nhưng các quan sát thực nghiệm chỉ ra rằng ngày nay phần lớn người Công giáo Thái Lan kết hôn ngoài Công giáo, điều này gây khó khăn trong việc duy trì nếp sống gia đình Công giáo truyền thống. Hơn nữa, nhiều người trong số họ vốn dĩ đã xuất thân từ những gia đình tôn giáo hỗn hợp.

Với nhiều người trẻ, một khi rời khỏi nhà để đi học hoặc làm việc cũng có xu hướng xa rời Giáo hội. Đây là lý do chính lý giải tại sao tất cả các giáo phận ở Thái Lan cũng như nhiều hội dòng kiên quyết duy trì hệ thống tiểu chủng viện, tiếp nhận các học sinh đã hoàn thành bậc tiểu học, nhằm bảo đảm luôn có một nhóm người trẻ được đào tạo trong môi trường Công giáo cách liên tục. Dù tỷ lệ các tiểu chủng sinh trở thành linh mục và tu sĩ là cực kỳ thấp, nhưng nhiều vị lãnh đạo trong Giáo hội vẫn cho rằng ít nhất những người được thấm nhuần đời sống chủng viện sẽ có khả năng sống đức tin mạnh mẽ hơn so với các bạn đồng trang lứa.[40] Như chúng ta có thể thấy, các Giáo hội vốn đã nhỏ bé tại châu Á hiện đang đối mặt với nhiều thách đố trong việc duy trì số lượng tín hữu cũng như ơn gọi. Trước thực tế này, sự hiện diện của di dân Công giáo có thể góp phần duy trì đời sống Giáo hội theo nhiều cách khác nhau.

2. Những đặc điểm thuận lợi nơi di dân Việt Nam

Xét về tiềm năng loan báo Tin mừng, di dân Công giáo Việt Nam có một số đặc điểm thuận lợi sau: Thứ nhất, vì những di dân Việt Nam đến các nước châu Á là lao động, sinh viên hoặc diện hôn nhân, họ rất trẻ, ở độ tuổi 20 và 30, thậm chí đôi khi ở độ tuổi thiếu niên.[41] Người di dân bao gồm những người đã kết hôn cũng như độc thân. Vì ở độ tuổi trẻ trung, họ có cơ hội tốt hơn để học ngôn ngữ bản địa và thích nghi với văn hóa địa phương nếu có điều kiện thuận lợi. Tại Thái Lan, nhiều di dân Việt Nam nói tiếng Thái rất tốt mà không hề được vào lớp học ngôn ngữ chính thức nào. Khả năng diễn đạt ngôn ngữ của họ chỉ đơn giản hấp thụ từ việc làm chung với người Thái như phục vụ khách hàng Thái trong các nhà hàng và quán rượu và giao tiếp với người Thái hằng ngày. Mặt khác, những người di cư đến Nhật Bản và Hàn Quốc thường có cơ hội học ngôn ngữ trong chương trình chính thức ít nhất trong một khoảng thời gian trước khi đi làm.[42] Ở Nhật Bản, những người có thị thực sinh viên cũng được phép làm bán thời gian.

Thứ hai, phần đông di dân đến từ các vùng nông thôn Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung và Bắc của đất nước, nơi đời sống tôn giáo vẫn còn mạnh mẽ. Theo truyền thống, người Công giáo Việt Nam thường sinh sống tại các làng Công giáo, nơi nhà thờ giáo xứ là trung tâm của cộng đoàn. Trong khi văn phòng của Hội đồng Giám mục Việt Nam báo cáo rằng chưa có bất kỳ ước tính chính thức nào về tỷ lệ tham dự Thánh lễ tại Việt Nam,[43] thì các quan sát thực tế chỉ ra rằng con số này vẫn còn tương đối cao, đặc biệt là tại các vùng nông thôn của đất nước. Qua những lần thăm Việt Nam, tôi nhận thấy rằng nhiều người di dân Việt, dù khi sống ở nước ngoài bỏ lễ thường xuyên, ngay cả lễ Chúa nhật, nhưng khi trở về quê hương, dù chỉ là thăm viếng hay ở lại lâu dài, họ vẫn tham dự Thánh lễ đều đặn, kể cả trong các ngày thường. Các giáo xứ Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn cử hành Thánh lễ rất sớm. Ở nhiều nơi tiếng chuông nhà thờ đổ từ lúc 3 giờ 30 hoặc 4 giờ sáng.

Thứ ba, nhờ được đào tạo đức tin từ nhỏ, nhiều người Công giáo Việt Nam vẫn luôn khao khát sống đạo ngay cả khi họ ra nước ngoài. Tại tất cả các quốc gia được đề cập trong bài viết này, đều có nhiều nhóm di dân Công giáo Việt Nam tổ chức họp mặt ít nhất một tháng một lần để tham dự Thánh lễ bằng tiếng Việt. Tại Thái Lan, trước đại dịch Covid-19, có 20 nhóm như vậy, phần lớn tập trung tại Tổng giáo phận Bangkok và Giáo phận lân cận Chanthaburi.[44] Tại các quốc gia khác, số lượng cộng đoàn Công giáo người Việt còn cao hơn đáng kể do có đông di dân hơn. Tại Đài Loan, có khoảng 30 cộng đoàn, trong đó những cộng đoàn lớn có đến hàng trăm thành viên. Tại Hàn Quốc và Đài Loan, nhiều cộng đoàn tổ chức Thánh lễ tiếng Việt hằng tuần. Các buổi cử hành này thường được tổ chức tại nhà thờ giáo xứ vào những thời điểm thuận tiện cho người di dân, và không trùng với các cử hành hay sinh hoạt khác của giáo xứ. Tại một số nơi, cộng đoàn Việt Nam tổ chức các sinh hoạt riêng của mình trong các cơ sở độc lập với nhà thờ giáo xứ.

3. Những đóng góp truyền giáo tiềm năng của di dân Công giáo Việt Nam

Khi bàn về di dân trong bối cảnh loan báo Tin mừng, các cuộc thảo luận thường xoay quanh những vấn đề quen thuộc như: chào đón di dân, tạo điều kiện để họ có không gian phụng tự và sinh hoạt cộng đoàn bằng ngôn ngữ của mình, bảo vệ quyền lợi của họ và hỗ trợ họ hội nhập vào văn hóa địa phương để ổn định cuộc sống. Đây đều là những khía cạnh thiết yếu trong sứ mạng của Hội thánh đối với hoặc cùng với người di dân. Mối quan tâm này được thể hiện rõ qua thực tế rằng, tính đến năm 2025, đã có 111 sứ điệp hằng năm từ các Đức Giáo hoàng nhân Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn, một con số vượt trội so với các dịp khác như Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội (59 năm), Ngày Thế giới Hòa bình (58 năm) hay Ngày Quốc tế Bệnh nhân (33 năm). Tuy nhiên, trong bài viết này, tác giả muốn nêu bật một khía cạnh khác, là việc di dân loan báo Tin mừng, trong đó người di dân chủ động tham gia vào sứ vụ của Thiên Chúa (missio Dei). Nói cách khác, Kitô hữu di dân không chỉ là đối tượng của hoạt động mục vụ và loan báo Tin mừng của Hội thánh, mà còn là chủ thể của sứ vụ của Thiên Chúa trong lòng Hội thánh.[45] Họ có tiềm năng trở thành những nhà loan báo Tin mừng, cả trong chính cộng đoàn của mình lẫn tại quê hương mới.

Tác giả đề xuất rằng di dân Việt Nam tại châu Á ngày nay có thể thực thi sứ mạng môn đệ truyền giáo trong ba lĩnh vực chính: (1) Trở nên hiện thân các giá trị cốt lõi của sứ vụ loan báo Tin mừng; (2) Loan báo Tin mừng trong cộng đoàn di dân Việt; và (3) Loan báo Tin mừng vượt ra ngoài cộng đoàn.

3.1. Trở nên hiện thân của các giá trị cốt lõi của sứ vụ loan báo Tin mừng

Trước hết, cũng như mọi di dân khác, di dân Việt Nam có thể tham gia vào sứ vụ loan báo Tin mừng bằng cách trở nên hiện thân của các giá trị cốt lõi như: lòng hiếu khách, sự hòa giải, bác ái, công lý, hòa bình và sự toàn vẹn của công trình sáng tạo. Trọng tâm của sứ vụ của Thiên Chúa là khôi phục hình ảnh của Người nơi mỗi con người qua công trình cứu độ của Đức Giêsu Kitô, để mọi người có thể trở nên hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei) cách hoàn hảo. Đời sống và kinh nghiệm của người di dân phản chiếu một khát vọng sâu xa về sự thay đổi, canh tân và hoàn thiện bản thân, những khát vọng vốn phổ quát nơi toàn thể nhân loại. Đức Giáo hoàng Phanxicô mô tả người di dân là hiện thân của “khát vọng của nhân loại về sự hiệp nhất được đánh dấu bởi sự tôn trọng khác biệt, chấp nhận lẫn nhau và lòng hiếu khách, qua đó cho phép sự chia sẻ công bằng các của cải trên thế giới, đồng thời bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người”.[46]

Thực tại của việc di cư thách thức những chia rẽ và bất bình đẳng trong gia đình nhân loại. Những khó khăn mà vô số người di dân phải đối mặt đã phơi bày lòng tham, sự dối trá, bóc lột và bất công là những điều xúc phạm đến phẩm giá con người, vốn có nguồn gốc từ việc được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Phẩm giá ấy hiện diện nơi mỗi người, vượt trên các tiêu chí như năng suất, giai cấp xã hội hay sắc tộc.[47] Sự hiện diện của người di dân mời gọi mọi người trong xã hội tiếp nhận họ vượt qua thành kiến và sợ hãi, mở lòng đón nhận sự đa dạng, chăm sóc những người dễ bị tổn thương và chào đón những ai thuộc vùng ngoại vi.[48]

Sự hiện diện của di dân Việt Nam cũng đặt ra thách thức với xã hội tiếp nhận trong việc vượt qua não trạng “tổng bằng không”, tức là quan niệm cho rằng khi nhóm người này thắng thì nhóm khác phải thua. Cách nghĩ này phơi bày sự chia rẽ và cạnh tranh, cho rằng tài nguyên và cơ hội là hữu hạn và sự tiến bộ của nhóm này đồng nghĩa với sự thiệt thòi của nhóm kia. Tuy nhiên, thực tại của việc di cư và tình liên đới nhân loại mời gọi chúng ta đón nhận một tầm nhìn rộng lớn hơn, trong đó di dân không làm suy giảm tiềm năng hay sự thịnh vượng của cộng đồng; thay vào đó, có sự làm phong phú lẫn nhau nhờ sự đa dạng, trao đổi văn hóa và những đóng góp di dân mang đến.[49]

Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh: “Lịch sử dạy chúng ta rằng những đóng góp của người di dân và tị nạn đóng vai trò thiết yếu cho sự phát triển xã hội và kinh tế nơi xã hội chúng ta. Điều này vẫn đúng trong thời đại chúng ta. Công việc của họ, sức trẻ của họ, lòng nhiệt huyết và tinh thần sẵn sàng hy sinh của họ làm phong phú các cộng đoàn đón nhận họ”.[50] Điều này rất đúng trong trường hợp di dân Việt Nam, vốn phần lớn là những người cực kỳ trẻ và năng động. Nhờ đón nhận cách tiếp cận toàn diện, chúng ta có thể vượt qua não trạng dựa trên sự khan hiếm (scarcity-based), để cùng nhau “xây dựng một tương lai của công lý và hòa bình, bảo đảm rằng không ai bị bỏ lại phía sau”.[51]

3.2. Loan báo Tin mừng trong cộng đoàn di dân

Khi một Kitô hữu di dân đặt chân đến một vùng đất mới, họ không chỉ mang theo văn hóa mà còn cả đức tin của mình. Tại quê hương mới, họ thường tập trung thành các cộng đoàn di dân như một phương thế hỗ trợ lẫn nhau về mặt xã hội và đời sống thiêng liêng. Dù nhiều người trước đây chưa từng tích cực tham gia hay đảm nhận vai trò lãnh đạo nào trong giáo xứ quê nhà, nay lại trở thành những thành viên nòng cốt trong các nhóm di dân vì nhiều lý do khác nhau. Nhiều người đảm nhiệm vai trò trong ban điều hành mục vụ và đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đoàn. Trong các cộng đoàn Công giáo di dân Việt tại Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và các quốc gia khác, phần lớn thành viên hội đồng mục vụ đồng hành với các cha quản nhiệm là những người trẻ trong độ tuổi 20, 30 và 40. Dù phải đối mặt với những đòi hỏi và thử thách giống như bao người di dân khác, họ vẫn dành thời gian để tổ chức các sinh hoạt đạo đức, góp phần nuôi dưỡng đời sống đức tin của mình.

Ngoài việc tham gia vào Giáo hội, một số di dân còn khởi xướng các hoạt động từ thiện và thiện nguyện nhằm giúp đỡ đồng hương đang gặp khó khăn như tai nạn, bệnh tật hoặc mất việc làm. Trong đại dịch Covid-19, nhiều di dân Việt Nam tại Thái Lan đã tổ chức các đợt quyên góp và phân phát thực phẩm cho những người có hoàn cảnh khó khăn do bệnh tật và thất nghiệp. Là một phần của thế hệ lớn lên trong thời đại công nghệ số, một số anh chị em đã sử dụng mạng xã hội để vận động đóng góp cho các hoạt động bác ái. Anh Võ Công Dũng, một di dân thuộc giáo phận Hà Tĩnh, cùng với nhóm Lòng Chúa Thương Xót, đặc biệt tích cực trên mạng xã hội để quyên góp giúp đỡ các trường hợp gặp khó khăn cả ở Thái Lan lẫn Việt Nam. Nhờ những cố gắng được thúc đẩy bởi tinh thần đoàn kết và bác ái, các di dân Việt Nam đã trở thành nguồn sức mạnh và sự trợ lực cho nhau.

Ngay cả những di dân không tích cực tham gia vào các sinh hoạt của Giáo hội cũng có thể góp phần vào việc loan báo Tin mừng cho những di dân khác, chỉ đơn giản bằng việc giữ gìn và sống đức tin của mình nơi quê hương mới. Thực tế cho thấy, nhiều di dân Công giáo từng là những tín hữu đạo đức, thường xuyên tham dự Thánh lễ và sống đức tin vững vàng khi còn ở quê nhà. Tuy nhiên, khi họ ra khỏi môi trường nề nếp của gia đình và giáo xứ, một số người, nhất là các di dân trẻ, bắt đầu trở nên nguội lạnh hoặc hững hờ trong đời sống đạo. Vì thế, sự hiện diện của những người đồng hương tích cực trong đời sống đức tin có giá trị chứng nhân rất lớn và trở thành lời nhắc nhở quan trọng về sự cần thiết trong việc duy trì đời sống đức tin ngay cả khi sống và làm việc nơi đất khách.

3.3. Loan báo Tin mừng vượt ra ngoài cộng đoàn

Khi người di dân đến một vùng đất mới, nhiều người nhận ra rằng đời sống đạo của giáo dân địa phương thiếu sự nhiệt thành.[52] Trái ngược với đời sống tôn giáo sôi động tại quê nhà, họ thường cảm thấy môi trường tại quốc gia sở tại có xu hướng thế tục hóa quá mức. Thực tế này có thể thúc đẩy một số di dân trở thành những nhà truyền giáo nhiệt huyết, khát khao chia sẻ đức tin với người dân tại quê hương mới. Họ không chỉ tham gia các hoạt động trong cộng đoàn di dân mà còn hội nhập vào các giáo xứ và tham gia vào Giáo hội địa phương.[53] Trong nhiều trường hợp, các di dân lãnh trách nhiệm trong hội đồng mục vụ, dạy giáo lý cho thiếu nhi, tham gia ca đoàn và cộng tác với các linh mục chánh xứ trong các hoạt động mục vụ khác nhau.

Sự năng động này đặc biệt rõ nét nơi người Công giáo Philippines, những người hiếm khi lập ra các cộng đoàn sắc tộc riêng biệt. Thay vào đó, họ tích cực tham gia vào các cộng đoàn quốc tế và đóng góp tài năng của mình cho các giáo xứ địa phương. Chẳng hạn, tại giáo xứ Chúa Cứu Thế ở Bangkok, mỗi Chúa nhật có năm Thánh lễ tiếng Anh, thu hút cả người Thái lẫn người nước ngoài tham dự. Thánh lễ lúc 11 giờ sáng có đông người tham dự nhất, không chỉ vì giờ giấc thuận tiện, đặc biệt đối với khách du lịch tại Thái Lan, mà còn vì ca đoàn chất lượng gồm các ca sĩ và nhạc sĩ người Philippines, một số đang làm việc tại các khách sạn và nhà hàng lớn trong thành phố.

Trong bối cảnh di dân Việt Nam tại châu Á, có nhiều lĩnh vực mà Giáo hội địa phương có thể được hưởng lợi từ sự hiện diện và hội nhập của họ. Trước hết là đời sống chứng tá họ mang đến cho các cộng đoàn địa phương đang già hóa và suy giảm số lượng tín hữu. Chẳng hạn, ở giáo xứ Đức Mẹ Lộ Đức tại Bangkok, những di dân trẻ Việt Nam chiếm gần một nửa số người tham dự Thánh lễ Chúa nhật trong những tuần không có Thánh lễ tiếng Việt. Tương tự, tại nhà thờ Đức Mẹ Fatima, Thánh lễ lúc 5 giờ chiều Chúa nhật cũng ghi nhận sự hiện diện đáng kể của các bạn trẻ Việt trong những hàng ghế. Nhiều tín hữu Thái nhận xét rằng di dân trẻ Việt Nam thường ăn mặc chỉnh tề khi đi lễ, một thói quen xứng hợp với tiến trình giáo dục đức tin tại Việt Nam, nơi quy định ăn mặc chỉnh tề thường được áp dụng tại các giáo xứ vùng nông thôn.

Đóng góp khả thi thứ hai cho các Giáo hội địa phương tại châu Á là ơn gọi. Những quốc gia như Hoa Kỳ và Úc đã được hưởng lợi rất lớn từ các ơn gọi xuất phát từ cộng đoàn di dân Việt Nam. Chẳng hạn, hiện nay người Việt Nam chiếm 12% số chủng sinh tại Hoa Kỳ.[54] Một con số đáng kinh ngạc khi người Công giáo Mỹ gốc Việt chỉ chiếm chưa đầy 1% số tín hữu Công giáo tại Mỹ. Tại các quốc gia châu Á, hiện có hàng trăm linh mục và tu sĩ Việt Nam đang phục vụ trong Giáo hội. Ví dụ, tại Đài Loan, tính đến cuối năm 2022, có 82 linh mục, 146 nữ tu và 7 chủng sinh đang hiện diện tại quốc gia này.[55] Tại Nhật Bản, cũng có vài trăm linh mục và tu sĩ Việt Nam đang dấn thân trong nhiều lĩnh vực mục vụ khác nhau. Tuy nhiên, các linh mục và tu sĩ người Việt tại châu Á phần lớn do bề trên các dòng tu bổ nhiệm đến các quốc gia này hoặc được các giáo phận và hội dòng địa phương tuyển chọn trực tiếp từ Việt Nam. Nhìn chung, việc nỗ lực tìm kiếm ơn gọi từ trong chính cộng đoàn di dân tại các quốc gia này vẫn chưa được thực hiện. Tại Thái Lan, đã có ba trường hợp như vậy, điều này được xem là khá đặc biệt. Phải thừa nhận rằng, khát vọng kinh tế là động lực chính thúc đẩy người Việt di cư ra nước ngoài; tuy nhiên, thật đáng tiếc khi các giáo hội địa phương và các dòng tu chưa quan tâm đúng mức đến tiềm năng ơn gọi trong cộng đoàn này, những người vốn rất trẻ và chưa lập gia đình.

Sau cùng, sự hiện diện của di dân Việt Nam có tiềm năng thúc đẩy đối thoại liên tôn. Giáo hội kể từ Công đồng Vaticanô II đã khẳng định rằng đối thoại liên tôn là một phương thế không thể thiếu trong việc loan báo Tin mừng trong thế giới hôm nay.[56] Di dân Việt Nam, khi đến sinh sống và làm việc tại các quốc gia mới, thường sống trong môi trường đa văn hóa và đa tôn giáo. Ngay cả khi trước đây họ từng sống trong môi trường chủ yếu là Công giáo tại quê nhà, thì việc di cư thường buộc họ phải tiếp xúc và làm việc với những người thuộc các sắc tộc và tôn giáo khác nhau. Thêm vào đó, các cấp quản lý của họ tại những quốc gia này phần lớn không phải là người Công giáo. Khi họ quen với bối cảnh sống và làm việc đa dạng và tiếp xúc hằng ngày với những người có niềm tin khác biệt, thì họ có cơ hội để thực hiện đối thoại liên tôn. Người Kitô hữu di dân có thể phục vụ như những đại sứ đức tin, góp phần xóa bỏ định kiến và làm sâu sắc thêm sự trân trọng đối với những khát vọng thiêng liêng mà nhân loại cùng chia sẻ. Những cuộc tiếp xúc như thế trở thành hình thức của đối thoại liên tôn, đặc biệt là đối thoại của đời sống, một hình thức mà mọi Kitô hữu đều có thể tham gia, bất kể họ là ai.[57]

4. Những thách đố với môn đệ truyền giáo di dân

Mặc dù di dân Công giáo Việt Nam tại châu Á được mời gọi sống sứ vụ môn đệ truyền giáo với tiềm năng to lớn trong tư cách là những chủ thể của sứ vụ trong Giáo hội, nhưng còn nhiều thách đố cần phải vượt qua trước khi họ có thể thực sự sống trọn ơn gọi Kitô hữu của mình. Những thách đố này có thể được bàn luận theo bốn phần chính sau: (1) từ phía Giáo hội tiếp nhận; (2) từ phía Giáo hội sai đi; (3) từ phía các linh hướng di dân; và (4) từ chính người di dân.

4.1. Giáo hội tiếp nhận

Giáo hội tại quốc gia tiếp nhận đóng một vai trò vô cùng thiết yếu trong việc giúp các di dân Việt Nam nhận ra tiềm năng truyền giáo của họ. Điều này đòi hỏi trước hết và trên hết là Giáo hội cần có một thái độ chống lại khuynh hướng phổ biến của xã hội đối với người di dân. Theo Đức Hồng y Tarcisio Isao Kikuchi, Giám mục Tokyo, trong xã hội Nhật Bản, sự hiện diện của người di dân hay bị xem là một vấn nạn. Đáng tiếc thay, tâm lý này đôi khi cũng được lặp lại trong Giáo hội địa phương, khi người ta bàn về “vấn đề nhập cư”.[58] Trong khi sự mô tả của xã hội về người di dân thường có thể là tiêu cực, thì Giáo hội, vốn đã có hơn 100 sứ điệp hằng năm của các Đức Giáo hoàng liên quan đến người di dân, chưa kể đến vô số tài liệu Giáo hội khác ở cấp độ toàn cầu và địa phương cần phải đi ngược dòng và cất lên tiếng nói ngôn sứ bảo vệ di dân khi họ bị chỉ trích và miêu tả cách bất công.

Bên cạnh việc vượt qua nhận thức về di dân như một “vấn đề”, một thách đố khác nơi Giáo hội địa phương là khuynh hướng chỉ xem di dân như đối tượng của sứ vụ. Dù điều này là cần thiết vì người nhập cư rất cần được hỗ trợ, như giáo huấn của Giáo hội đã nhấn mạnh, nhưng môn đệ truyền giáo nghĩa là di dân không chỉ là người đón nhận thụ động, mà còn là chủ thể tích cực. Tại các quốc gia châu Á được bàn luận trong bài viết này, đã có những sáng kiến tiếp cận mục vụ nhằm hỗ trợ di dân Việt Nam. Tại Đài Loan, cũng có những chương trình giúp di dân Việt đấu tranh cho quyền lợi của mình khi bị các chủ lao động Đài Loan bóc lột.[59] Tại Hàn Quốc, Đức Tổng giám mục Peter Chung Soon-taick, Tổng Giáo phận Seoul đã tuyên bố trong bài giảng Thánh lễ kỷ niệm Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn, ngày 24 tháng 9 năm 2023 rằng: “Chúng ta phải bảo vệ các quyền mà người di dân và tị nạn xứng đáng được hưởng”.[60] Ở nhiều cấp độ khác nhau, những lời tuyên bố ấy đã được phản ánh trong hành động cụ thể của các Giáo hội địa phương dành cho di dân Việt Nam.

Tuy nhiên, để người di dân có thể trở thành những môn đệ truyền giáo, thì cần phải có sự hội nhập vào Giáo hội địa phương, điều vốn vẫn là một thách đố lớn. Tại các Giáo hội tiếp nhận, thực tế cho thấy người di dân thường bị xem như những người ngoài cuộc. Do vậy, có rất ít nỗ lực để tiếp nhận họ vào đời sống của Giáo hội bản địa. Hãng tin UCA News ghi nhận rằng tại Nhật Bản, trước đây, các nhà truyền giáo ngoại quốc được trân trọng và chủ động mời gọi để loan báo Tin mừng cho xã hội Nhật Bản. Điều này đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về ngôn ngữ và văn hóa. Tuy nhiên, hiện nay, các linh mục và tu sĩ từ nước ngoài chủ yếu được đưa vào để chăm sóc mục vụ cho các cộng đoàn di dân cụ thể trong Giáo hội Công giáo tại Nhật Bản. Những người này không được yêu cầu phải bồi đắp các kỹ năng ngôn ngữ hoặc văn hóa nhằm giúp cho bản thân hoặc cộng đoàn của mình hội nhập vào bối cảnh xã hội Nhật rộng lớn hơn vì mục tiêu loan báo Tin mừng. Đồng thời, việc đào tạo hàng giáo sĩ Nhật Bản bỏ qua việc giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa của người nhập cư, cũng như không chuẩn bị cho việc lồng ghép các thành viên di dân vào công cuộc loan báo Tin mừng. Hệ quả là, với một vài ngoại lệ, Giáo hội Công giáo tại Nhật Bản thật sự đã bị phân chia: một bên là cộng đoàn người Nhật bản xứ đang co lại, chủ yếu gồm những người cao tuổi, trong khi bên còn lại thì gia tăng, phần lớn là những người nhập cư trẻ, với thực hành đức tin gần như tách biệt với bất kỳ nỗ lực nào nhằm tiếp cận xã hội Nhật Bản. Vì cả linh mục ngoại quốc lẫn linh mục bản địa đều không được trang bị hoặc kỳ vọng để vượt qua rào cản ngôn ngữ và văn hóa, nên quá trình hội nhập của người mới vào Giáo hội Nhật Bản và sự canh tân của Giáo hội này theo sau đó gặp trở ngại.[61]

Tại Thái Lan, mục vụ cho di dân Việt Nam chỉ được công nhận trên danh nghĩa như một hoạt động mục vụ chính thức trong Giáo hội. Ủy ban Mục vụ Di dân Việt Nam tại Thái Lan được thành lập năm 2017 theo chỉ đạo của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Kriengsak, khi ngài còn giữ chức Chủ tịch Hội đồng Giám mục Thái Lan. Tuy nhiên, trên thực tế, ủy ban này, bao gồm các linh mục và tu sĩ Việt Nam đang phục vụ tại Thái Lan hoạt động một cách độc lập, không có ngân sách, không bị ràng buộc phải tham dự bất cứ cuộc họp nào hoặc làm báo cáo. Hầu như tất cả các hoạt động cần nhờ đến cơ sở vật chất của Giáo hội đều phải được sắp xếp thông qua việc tham khảo ý kiến các cha xứ địa phương, những người có quyền chấp thuận hoặc từ chối yêu cầu. Tại một giáo xứ, cha xứ mới từ chối không cho phép tổ chức Thánh lễ tiếng Việt hằng tháng trong khi cha xứ trước đó đã chấp nhận. Tại các nhà thờ có nhóm người Việt sinh hoạt, các hoạt động thường do linh mục người Việt điều hành mà không có sự tham gia của các cha xứ người Thái. Chỉ trong vài trường hợp hiếm hoi, các cha xứ người Thái mới hiện diện trong những dịp đặc biệt như lễ bổn mạng cộng đoàn, hoặc lễ Giáng sinh và lễ Phục sinh.

Mặc dù Hàn Quốc có chương trình mục vụ chính thức và quy củ hơn nhiều cho người di dân nói chung và cho di dân Việt Nam nói riêng, nhưng tình trạng Giáo hội song song vẫn tồn tại. Một linh mục quản nhiệm người Việt Nam tại Hàn Quốc chia sẻ:

Giáo hội Hàn Quốc rất quan tâm tới mục vụ di dân. Vì thế mà hầu hết các giáo phận đều có các trung tâm mục vụ di dân. Tuy nhiên, nếu xét cho cùng, chỉ có một số Giáo phận quan tâm tới mục vụ di dân đúng nghĩa. Nghĩa là các trung tâm này mời các cha Việt Nam cộng tác, chăm sóc mục vụ cho di dân như: cử hành thánh lễ, cử hành các bí tích, mở các lớp giáo lý, các sinh hoạt tôn giáo... còn lại các trung tâm mục vụ di dân khác chỉ có một vài nhân viên văn phòng, với công việc chủ yếu là tư vấn về thăm khám sức khỏe hay liên lạc với các chủ công ty, nhà hàng đòi nợ lương cho công nhân mà thôi. Thậm chí có một số giáo xứ, cha xứ biết trong địa bàn giáo xứ của mình có nhiều người di dân ngoại quốc đang sinh sống (làm việc và học tập) nhưng họ chẳng quan tâm, có khi còn có thái độ thành kiến đối với những người ngoại quốc, khiến cho nhiều di dân không muốn tới tham dự thánh lễ tham gia các sinh hoạt của giáo xứ nữa. Từ đó để giữ được đời sống đức tin đã khó, huống gì là truyền giáo.[62]

Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề khác có thể được bàn luận liên quan đến Giáo hội tiếp nhận, nhưng những thách đố chính yếu mà Giáo hội tại các quốc gia sở tại phải đối diện có thể được tóm gọn trong ba điểm: (1) chống lại cám dỗ xem người di dân như một “vấn đề”; (2) chống lại khuynh hướng coi người di dân trong Giáo hội như những người ngoài cuộc; và (3) vượt qua giới hạn của việc chăm sóc mục vụ/xã hội để đạt tới sự hội nhập thực sự của người di dân vào đời sống Giáo hội địa phương.

4.2. Giáo hội sai đi

Ơn gọi môn đệ truyền giáo cần có một quá trình đào tạo vững chắc. Trong khi di cư, cả trong nước (từ nông thôn ra thành thị) lẫn quốc tế (để lao động và học tập) là hiện tượng phổ biến nơi giới trẻ Việt Nam, thì việc huấn luyện thiêng liêng cho hành trình “đi ra” này thường còn thiếu sót. Việc dạy giáo lý tại Việt Nam thường nhấn mạnh vào việc học thuộc lòng các giáo huấn của Giáo hội và các kinh riêng của giáo phận; nó được minh chứng qua sự phổ biến của các sách kinh và tài liệu chuẩn bị hôn nhân được biên soạn riêng cho từng giáo phận. Theo cha Nguyễn Văn Quý, dòng Đa Minh, người tham gia chương trình mục vụ di dân Việt Nam tại Thái Lan, thì di dân Việt Nam không rời quê hương với sứ vụ truyền giáo chính thức được ủy thác bởi giáo phận hay giáo xứ của mình. Thay vào đó, việc họ ra đi chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu kinh tế, với mong muốn tìm cơ hội việc làm tốt hơn tại Thái Lan. Vì việc di cư này mang tính cá nhân và gia đình hơn là định hướng truyền giáo, nên họ không được chuẩn bị hay hướng dẫn gì liên quan đến vai trò của mình như những môn đệ truyền giáo trước khi lên đường.[63]

Cha Đặng Quốc Cường, thuộc dòng Ngôi Lời, người từng có nhiều năm làm việc như một lao động di dân trước khi nhập dòng nhận xét:

Thuở ban đầu, trước khi được Chúa Giêsu sai đi, các Tông đồ cũng đã được chính Người dạy dỗ và đào tạo. Tương tự như các Tông đồ, di dân ngày nay cần được Giáo hội sai đi chăm sóc và chuẩn bị trước khi họ di cư sang các quốc gia khác để học tập hay làm việc. Tuy nhiên, việc trang bị cho các Kitô hữu di dân những kiến thức và sự đào tạo cần thiết dường như vẫn còn thiếu trong thời điểm hiện tại. Tết Nguyên Đán, khi nhiều di dân từ nước ngoài hoặc các vùng miền khác trong nước trở về quê hương, là cơ hội quý giá để tổ chức các buổi gặp gỡ và hướng dẫn. Thế nhưng, các cuộc gặp gỡ và buổi chia sẻ giữa các vị chủ chăn và anh chị em di dân ở cấp giáo xứ gần như không tồn tại. Nhiều người ra đi mà không có sự chuẩn bị đầy đủ để sống đức tin nơi đất khách, cũng như không hiểu rõ những đóng góp tiềm năng mà họ có thể mang đến cho Giáo hội địa phương.[64]

Bên cạnh việc thiếu đào tạo để chuẩn bị cho sứ vụ môn đệ truyền giáo là việc kết nối gián đoạn giữa người di dân và các mục tử tại giáo hội quê nhà. Nhiều tín hữu Công giáo Việt Nam không báo cho cha xứ khi họ di cư, chỉ liên lạc về khi cần lãnh nhận các bí tích như hôn phối hoặc rửa tội cho con cái.[65] Đây có thể là một trong những lý do khiến cha xứ nơi quê nhà không theo dõi mục vụ sát sao sau khi họ rời đi. Cha Nguyễn Bính, SVD, quản nhiệm tại Thái Lan, nhận xét rằng các cha xứ tại quê nhà của nhiều di dân vẫn giữ liên lạc và thực hiện các chuyến thăm mục vụ tại nhiều quốc gia, nhưng phần nhiều là nhằm gây quỹ cho các dự án xây dựng nhà thờ hơn là để khích lệ người di dân sống đúng với ơn gọi Kitô hữu của mình. Nếu có những lời nhắn nhủ theo hướng đó thì thường chỉ mang tính hình thức, thiếu đi các kế hoạch cụ thể hay đề xuất thực tế cho việc loan báo Tin mừng.[66] Nói cách khác, các mục tử tại quê nhà dường như quan tâm nhiều hơn đến việc người di dân đóng góp cho giáo xứ nơi đất mẹ như thế nào hơn là những gì họ có thể đóng góp cho Giáo hội tại nơi họ đang sinh sống. Cha Nguyễn Văn Quý nhận định rằng: dù đôi khi có một số linh mục từ giáo phận quê nhà của người di dân đến thăm, nhưng sự hiện diện của các ngài chỉ ở mức tối thiểu và thiếu chiến lược mục vụ hay truyền giáo rõ ràng.

Khi đánh giá chất lượng đào tạo cho sứ vụ môn đệ truyền giáo tại Việt Nam, Cha Lê Công Đức, cha giáo tại Đại chủng viện Huế đã chỉ ra sự thiếu vắng một cách tiếp cận toàn diện trong việc giáo dục đức tin, là tích hợp giữa đào tạo nhân bản, kiến thức thần học và đời sống đức tin thực hành.[67] Đặc biệt, ngài nhấn mạnh rằng có sự tập trung quá mức vào tri thức học thuật với cái giá phải trả là sự phát triển thực hành và đạo đức, thiếu đào tạo nhân bản toàn diện nhắm đến việc hình thành nhân cách và trách nhiệm xã hội, sự hiểu biết thần học của giáo dân còn hạn chế và việc áp dụng đức tin vào cuộc sống hằng ngày còn hời hợt. Cha Lê Công Đức lập luận rằng việc giáo dục đức tin cần phải vượt qua hình thức học thuộc lòng và thực hành nghi lễ đơn thuần để có thể đem đến một kinh nghiệm đức tin mang tính biến đổi, thấm nhập vào mọi khía cạnh của cuộc sống và phản ánh cách chân thực các giá trị Tin mừng. Ngài nói rằng việc giáo dục đức tin phải thách đố câu ngạn ngữ nổi tiếng Việt Nam, đơn giản là “sống tốt đời, đẹp đạo”. Cách nhìn này là chưa đủ cho công cuộc loan báo Tin mừng cách hiệu quả.

4.3. Linh hướng mục vụ di dân

Trong mục vụ di dân, vị linh hướng đảm nhận nhiều vai trò khác nhau. Trước hết, vị linh hướng có một sứ vụ đặc biệt với tư cách là người đồng hành thiêng liêng, chăm sóc mục vụ và đào tạo đức tin cũng như tư vấn về các vấn đề xã hội và pháp lý mà các di dân thường gặp phải trong đời sống hằng ngày. Thứ hai, vị linh hướng đóng vai trò là người bênh vực, nâng đỡ tinh thần và cảm thức cộng đoàn cho người di dân khi họ đối mặt với những thách đố về văn hóa, kinh tế và xã hội. Thứ ba, vị linh hướng còn là chiếc cầu nối giữa cộng đoàn di dân và Giáo hội địa phương, giúp người di dân hội nhập vào đời sống giáo xứ trong khi vẫn bảo tồn căn tính văn hóa và đời sống thiêng liêng của họ. Ngoài ra, vị linh hướng còn làm trung gian giữa người di dân và xã hội dân sự, đưa ra hướng dẫn về pháp lý, xã hội và kinh tế nhằm bảo đảm quyền lợi và phẩm giá của họ được tôn trọng.

Tuy nhiên, đã có nhiều thách đố liên quan đến công tác mục vụ quản nhiệm cách hiệu quả. Cha Phạm Trọng Quang, SVD, đã chỉ ra một số giới hạn then chốt trong chính bối cảnh Đài Loan. Trước hết, số lượng sẵn có các cha quản nhiệm người Việt được đào tạo để phục vụ toàn thời gian cho cộng đoàn di dân vẫn chưa đủ. Một tỉ lệ đáng kể các quản nhiệm chỉ làm việc bán thời gian, đồng thời đảm nhiệm các công việc mục vụ khác trong Giáo hội địa phương hoặc trong hội dòng mình. Bên cạnh đó, số vị linh hướng người Việt thông thạo ngôn ngữ bản địa, hiểu biết về văn hóa và pháp luật địa phương cũng không nhiều. Tuy sự hiện diện của các vị linh hướng này góp phần khơi dậy cảm thức cộng đoàn và sự gần gũi cho di dân Việt Nam, nhưng những hạn chế kể trên lại cản trở tiến trình hội nhập đầy đủ của người di dân vào đời sống và sứ vụ nơi Giáo hội sở tại.[68]

Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận trong bối cảnh Thái Lan. Phần lớn các vị linh hướng sử dụng tiếng Thái còn hạn chế và không có mối liên hệ chặt chẽ trong công việc với Giáo hội địa phương. Hầu như tất cả các vị linh hướng đều đảm nhiệm thêm các công việc khác không liên quan đến mục vụ di dân, do đó họ chỉ có thể làm việc bán thời gian. Cha Giuse Nguyễn Hải Phương, OP, đương kim Chủ tịch Ủy ban Mục vụ Di dân Việt Nam tại Thái Lan đã chỉ ra một số thách đố khác trong việc thi hành công tác quản nhiệm hiệu quả tại Thái Lan. Trước hết, là sự thiếu vắng một định hướng mục vụ rõ ràng và cụ thể cho công cuộc truyền giáo trong bối cảnh Thái Lan. Mặc dù định hướng mục vụ này lẽ ra cần được liên kết hài hòa với sứ mạng rộng lớn hơn của Giáo hội hoàn vũ, cũng như với các Giáo hội địa phương tại Thái Lan và Việt Nam, nhưng sự thiếu vắng định hướng như vậy khiến cho việc hướng dẫn và khơi dậy tinh thần loan báo Tin mừng nơi di dân Việt Nam gặp khó khăn. Bên cạnh đó, số lượng cha linh hướng hạn chế và sự phân bổ các ngài không đồng đều giữa các giáo phận cũng gây ra những trở ngại đáng kể. Phần lớn các vị linh hướng tập trung tại Bangkok, bỏ lại nhiều cộng đoàn di dân tại các khu vực khác không được chăm sóc mục vụ đầy đủ. Thiếu sự đồng hành thường xuyên, người di dân Việt Nam gặp khó khăn trong việc đào sâu đời sống đức tin, xây dựng cộng đoàn đức tin vững mạnh và dấn thân vào sứ vụ môn đệ truyền giáo. Sau cùng, mối liên hệ giữa các vị linh hướng và các giáo phận tại cả Thái Lan và Việt Nam vẫn còn yếu, do nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Việc thiếu sự hợp tác chặt chẽ về mặt thể chế này càng làm phức tạp thêm sứ vụ mục vụ di dân, khiến cho việc hỗ trợ cách hiệu quả và đồng điệu trở nên khó khăn. Hệ quả là, các cộng đoàn di dân Việt Nam tại Thái Lan đang phải đối diện với nhiều thách thức trong việc duy trì và chia sẻ niềm tin của mình, từ đó hạn chế khả năng sống trọn vẹn ơn gọi truyền giáo.[69]

Sự thiếu đồng đều nêu trên trong bối cảnh Thái Lan cũng được linh mục Tạ Thạch, SVD, hiện đang phục vụ cho chương trình mục vụ di dân Việt Nam tại Seoul, Hàn Quốc xác nhận là một thách đố. Theo vị linh mục Dòng Ngôi Lời này, trong khi các cộng đoàn lớn hơn tại Hàn Quốc có Thánh lễ Chúa nhật thường xuyên, các lớp giáo lý và những sinh hoạt cộng đoàn giúp củng cố đức tin và nâng cao ý thức truyền giáo, thì các cộng đoàn nhỏ hơn lại phải đối diện với nhiều khó khăn do thiếu linh mục. Nhiều cộng đoàn nhỏ hơn chỉ có thể tổ chức Thánh lễ mỗi tháng một lần, hoặc thậm chí hai tháng một lần. Việc cử hành phụng vụ gián đoạn như vậy làm suy yếu mối quan hệ cộng đoàn, làm giảm sự tham gia và thậm chí có người dần rời xa các thực hành đức tin. Hệ quả là, nhiều di dân chật vật trong việc duy trì đời sống đức tin, điều không thể thiếu với ơn gọi môn đệ truyền giáo. Thiếu vắng sự nâng đỡ thiêng liêng thường xuyên, cơ hội đào tạo đức tin cũng như để truyền giáo sẽ giảm đi, khiến di dân khó nuôi dưỡng đời sống đức tin của chính mình và chia sẻ niềm tin ấy với người khác.[70]

Trong bối cảnh Nhật Bản, theo Cha Nguyễn Hy, SVD, người lớn lên tại Nhật và đang mục vụ cho cả cộng đoàn người Nhật lẫn người Việt, thì trong ba năm qua, Hội đồng Giám mục Nhật Bản đã nỗ lực thiết lập mục vụ quản nhiệm cho người Việt Nam tại mỗi giáo phận. Nhờ đó, hiện nay, mỗi giáo phận tại Nhật đều có Thánh lễ tiếng Việt do các linh mục quản nhiệm người Việt cử hành.[71] Theo nhận định của Cha Nguyễn Hy, các linh mục và tu sĩ người Việt đang giúp mục vụ di dân tại Nhật Bản nhìn chung có đủ kiến thức và khả năng ngôn ngữ để thực hiện công việc mục vụ tại đây. Điều này là do phần lớn nhiệm vụ của họ vẫn xoay quanh việc cử hành Thánh lễ hay phục vụ tại các giáo xứ và tổ chức Công giáo tại Nhật Bản như bệnh viện, viện dưỡng lão và trường mẫu giáo. Dù có những dấu hiệu tích cực, thách đố chính trong bối cảnh Nhật Bản vẫn là vấn đề Giáo hội “song song”, vốn đã được đề cập ở phần trước của bài viết. Các linh mục quản nhiệm người Việt không chỉ cần hoàn thành tốt vai trò riêng của mình trong hai cộng đoàn Nhật Bản và Việt Nam, mà còn đóng vai trò kết nối hai cộng đoàn với nhau, nhằm thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng hơn.

4.4. Di dân Việt Nam

Chúng ta không thể bàn về môn đệ truyền giáo di dân mà không đề cập đến những thách đố đến từ chính bản thân người di dân. Ở nhiều khía cạnh, những thách đố này có mối liên hệ chặt chẽ với ba thách đố đã nêu trên. Theo Cha Tạ Thạch, SVD, một trong những trở ngại chính đối với môn đệ truyền giáo nơi di dân Việt Nam tại Hàn Quốc là quan niệm phổ biến cho rằng việc loan báo Tin mừng chỉ là trách nhiệm của hàng giáo sĩ và tu sĩ. Nhiều người Công giáo Việt Nam không xem việc truyền giáo như một phần thiết yếu trong ơn gọi Kitô hữu của mình, mà cho rằng đó là nhiệm vụ của các giám mục, linh mục và tu sĩ trong Giáo hội. Ở khía cạnh này, não trạng của di dân Việt Nam không khác gì so với các Kitô hữu khác ở trên thế giới hiện nay. Chính vì lý do đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô thấy cần thiết phải đề xướng mô hình môn đệ truyền giáo cho mọi Kitô hữu, như cách để vượt qua kiểu suy nghĩ này.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh của người lao động di dân Việt Nam tại châu Á, những áp lực kinh tế và công việc càng làm trầm trọng thêm các thách đố đã nêu. Hiện nay, phần lớn di dân Việt Nam ra nước ngoài để tìm kiếm cơ hội việc làm, học tập hoặc kết hôn với mục tiêu chính là cải thiện hoàn cảnh tài chính. Họ phải gánh vác những gánh nặng tài chính khủng, bao gồm chi phí sinh hoạt, học phí, tiền gửi về quê để hỗ trợ gia đình, và thường là để trả các khoản ứng trước cho chuyến đi của mình. Thường thì những đòi hỏi kinh tế này lấn át việc thực hành đạo, khiến họ hầu như không còn thời gian hay sức lực để tham gia việc loan báo Tin mừng. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Có thực mới vực được đạo.” Não trạng này đặt mối quan tâm thực tế lên trên những nhu cầu thiêng liêng.

Đối với nhiều người lao động di dân, lịch làm việc căng thẳng khiến họ gần như không thể tham gia vào các hoạt động tôn giáo. Những người làm việc trong các nhà máy thường phải làm nhiều giờ, kể cả cuối tuần, khiến họ khó có thể tham dự Thánh lễ hay tham gia các sự kiện của Giáo hội. Tại Hàn Quốc, theo báo cáo của linh mục Tạ Thạch, SVD, những người làm trong ngành đánh cá còn bị hạn chế nghiêm trọng hơn, vì chủ lao động thường kiểm soát cả điều kiện sinh hoạt lẫn lịch trình làm việc của họ. Trong một số trường hợp, ngay cả khi tổ chức Thánh lễ cho lao động di dân, các chủ lao động cũng không cho phép họ tham dự. Dần dà, sự vắng bóng bắt buộc khỏi đời sống tôn giáo này dẫn đến nguội lạnh dần trong đức tin và tham gia nửa vời vào các sinh hoạt của Giáo hội.

Tương tự, các du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc và Nhật Bản cũng gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa nhiệm vụ học tập và áp lực tài chính. Nhiều sinh viên phải đi làm thêm để trang trải học phí và chi phí sinh hoạt, thường là vào cuối tuần, thời điểm có Thánh lễ và các buổi họp mặt tôn giáo tổ chức. Điều này khiến các em gần như không còn cơ hội cho các thực hành tôn giáo, dẫn đến sự suy giảm trong đời sống đức tin và sự tách rời khỏi Giáo hội. Nhiều bạn trẻ trước đây từng năng nổ trong đời sống đức tin tại quê nhà dần dần mất kết nối với Giáo hội khi phải vật lộn với áp lực học tập và lao động nơi đất khách.

Hệ quả của những thách đố này là việc duy trì đức tin trở thành một cuộc đấu tranh đối với nhiều di dân Việt Nam, khiến cho ơn gọi môn đệ truyền giáo lại càng khó khăn hơn. Theo thời gian, một số người ngừng tham dự Thánh lễ, không còn lãnh nhận các bí tích hay tham gia vào các sinh hoạt tôn giáo nữa. Trong hoàn cảnh này, theo Cha Tạ Thạch, những nỗ lực nhằm thúc đẩy ý thức truyền giáo nơi di dân Việt Nam tại Hàn Quốc chỉ khả thi tại những cộng đoàn di dân lớn và đã ổn định, nơi có sự nâng đỡ và tham gia sinh hoạt tôn giáo. Ngược lại, những nhóm nhỏ hơn hoặc sống biệt lập phải đối mặt với những trở ngại đáng kể trong việc duy trì đức tin, chứ chưa nói đến việc loan truyền đức tin ấy cho người khác.

Bên cạnh áp lực kinh tế, việc giới trẻ sống trong một môi trường mới còn đặt ra nhiều thách đố cho đời sống thiêng liêng. Theo Cha Giuse Nguyễn Hải Phương, OP, một trong những khó khăn lớn nhất mà di dân Việt Nam phải đối mặt là sự thiếu vắng một cộng đoàn đức tin vững mạnh để nâng đỡ đời sống tôn giáo cho họ. Tại Việt Nam, đức tin Công giáo thường được nuôi dưỡng trong bối cảnh gia đình và cộng đoàn, thông qua các truyền thống như đọc kinh hằng ngày, tham dự Thánh lễ, học giáo lý và tham gia vào các đoàn thể trong Giáo hội. Hơn nữa, bản chất gắn bó chặt chẽ của các làng quê và giáo xứ Việt Nam đóng vai trò như một “hàng rào” bảo vệ đức tin. Áp lực xã hội và kỳ vọng cộng đoàn thường thúc đẩy người ta duy trì việc tham gia tích cực vào đời sống tôn giáo, bởi nếu bỏ bê các sinh hoạt của Giáo hội, họ có thể bị mất uy tín hoặc cảm thấy bị cô lập trong cộng đoàn của mình. Tuy nhiên, khi người di dân rời khỏi giáo xứ quê nhà và chuyển đến các quốc gia khác, đôi khi ở những nơi xa nhà thờ hoặc thậm chí không có, họ mất đi hệ thống hỗ trợ bảo vệ này. Nhiều người rơi vào hoàn cảnh không quen biết ai, và gần như không nhận được sự khích lệ nào để duy trì đời sống đức tin. Cảm giác lạc lõng và cô đơn đó khiến họ dễ dàng buông trôi thực hành tôn giáo.[72]

Cha Giuse Nguyễn Hải Phương còn chỉ ra rằng, ngoài việc thiếu vắng một cộng đoàn nâng đỡ đức tin, di dân Việt Nam còn phải đối mặt với những thách đố về luân lý và đời sống thiêng liêng đe dọa căn tính tôn giáo của họ. Khi không còn “hàng rào” bảo vệ từ các giáo xứ quê nhà, họ trở nên dễ bị tổn thương trước những cám dỗ xã hội khác nhau như cờ bạc, lạm dụng rượu bia, mê tín dị đoan và lừa đảo tài chính. Một số người, trong cơn tuyệt vọng vì muốn ổn định tài chính, lại trở thành nạn nhân của các hình thức bóc lột như vay nặng lãi, buôn bán bất hợp pháp và thậm chí cả buôn người. Một số người khác, khi phải vật lộn với cô đơn và những khó khăn cá nhân, lại trở thành mục tiêu dễ bị lôi kéo cải đạo bởi các nhóm không Công giáo. Nhiều người di dân, vì tò mò hoặc vì khao khát được thuộc về, đã tìm đến các nhóm bên ngoài đức tin của mình. Theo thời gian, việc tiếp xúc này có thể khiến họ đặt nghi vấn về niềm tin Công giáo và từ từ tách mình ra khỏi Giáo hội. Một số người cuối cùng đã từ bỏ đức tin hoàn toàn và rơi vào tay các giáo phái lệch lạc về giáo lý.

Thách đố lớn cuối cùng di dân Công giáo Việt Nam cần vượt qua là khuynh hướng tổ chức và tham gia các sinh hoạt dựa trên căn tính nhóm, chẳng hạn như người Việt Nam, thành viên của một giáo phận cụ thể tại Việt Nam hoặc thậm chí là giáo dân thuộc về một giáo xứ cụ thể. Các cử hành phụng vụ thường được tổ chức theo các hình thức như vậy. Giả sử trong một giáo phận như Tokyo hoặc Bangkok, dù có một cộng đoàn di dân Việt Nam rộng lớn hơn, quy tụ các thành viên từ khắp các vùng miền trong nước, nhưng các nhóm nhỏ bên trong thường tổ chức các sinh hoạt theo liên kết giáo phận hoặc giáo xứ quê nhà của mình. Dù điều này mang lại cảm giác thân thuộc và thoải mái, nhưng khuynh hướng gắn bó mạnh mẽ như vậy lại cản trở quá trình hội nhập vào Giáo hội địa phương và sự thích nghi văn hóa cần thiết cho tiến trình này. Nếu không được đào tạo đầy đủ về giao lưu văn hóa trong đời sống và giao tiếp, di dân Việt Nam thường cảm thấy thoải mái nhất khi ở trong nhóm của mình, điều này giới hạn sự tham gia của họ vào đời sống Giáo hội cũng như xã hội rộng lớn hơn.

III. HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI

Đức Hồng y Tarcisio Isao Kikuchi, SVD đã chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn rằng: “Tôi tin tưởng vững chắc rằng người di dân không phải là một vấn đề, mà là một niềm hy vọng cho Giáo hội. Họ mang đến cho cộng đoàn Công giáo một cơ hội độc đáo để lớn lên, đặc biệt với những người trẻ, và để loan báo Tin mừng tại những nơi mà Giáo hội chưa hiện diện cách tích cực”. Trong bối cảnh Nhật Bản, Đức Hồng y Kikuchi nói thêm: “Theo một cách nào đó, người di dân mang đến cho Giáo hội Nhật Bản khả năng canh tân chính mình và năng động hơn trong sứ vụ của mình. Đây là niềm hy vọng thực sự”.[73] Nếu những tâm huyết của Đức Hồng y Kikuchi được hiện thực hóa trong bối cảnh của Giáo hội Nhật Bản cũng như tại các quốc gia châu Á khác được đề cập trong bài viết này, thì các thách đố trong bốn lĩnh vực nêu trên cần phải được khắc phục, để những tiềm năng đã được trình bày có thể trở thành hiện thực. Cụ thể, tôi xin đề xuất tập trung vào những điểm sau đây như những định hướng nhằm thúc đẩy sứ mạng môn đệ truyền giáo cho di dân Việt Nam tại châu Á.

Dựa trên những phân tích ở các phần trước, có thể đưa ra những đề xuất sau đây nhằm nâng cao sứ vụ môn đệ truyền giáo nơi di dân Việt Nam.

1. Giáo hội sai đi

Điều hết sức cần thiết là Giáo hội sai đi, đặc biệt ở cấp giáo phận và giáo xứ, phải chủ động đào tạo và dạy giáo lý cho các bạn trẻ Công giáo, để chuẩn bị cho họ đảm nhận vai trò môn đệ truyền giáo trong tương lai. Với thực trạng giới trẻ Việt Nam di cư ồ ạt, cả trong nước lẫn quốc tế, Giáo hội cần trang bị cho những người trẻ khả năng điều hướng những phức tạp về mặt xã hội, văn hóa và đời sống thiêng liêng vốn gắn liền với quá trình chuyển đổi ấy. Bên cạnh mục tiêu học tập hay kinh tế, hành trình của người di dân cũng cần bao hàm chiều kích môn đệ truyền giáo như một phần không thể thiếu trong đời sống Kitô hữu, bất kể họ đi đến đâu.

Một yếu tố then chốt trong việc trao cho di dân Việt Nam trong vai trò môn đệ truyền giáo là nâng cao ý thức của họ về vô vàn cơ hội làm chứng cho đức tin trong đời sống hằng ngày, nơi ký túc xá hay nơi cư trú, tại nơi làm việc, trong gia đình liên tôn và các mối quan hệ xã hội qua việc kiên trì thực hành đạo v.v. Lãnh đạo mục vụ đóng vai trò không thể thay thế trong việc khai mở cho người di dân về những điều họ có thể làm được cho công cuộc truyền giáo trong đời sống thường nhật. Bằng cách tập trung vào những cách thức đa dạng và sáng tạo mà người di dân có thể làm chứng cho đức tin, Giáo hội giúp họ nhận ra tiềm năng truyền giáo và giá trị của mình trong tư cách là những môn đệ truyền giáo di dân.

Bên cạnh việc nuôi dưỡng ý thức môn đệ truyền giáo, việc đào luyện hiểu biết về đa văn hóa cũng là điều cần thiết. Cha Đặng Quốc Cường, dòng Ngôi Lời, một người từng là lao động di dân đã nhận định:

Giáo hội sai đi cần nhấn mạnh với anh chị em di dân về tầm quan trọng của việc tìm hiểu và sống phù hợp với văn hóa của đất nước nơi họ đến, như một phần trong sứ vụ loan báo Tin mừng. Trong thế giới hôm nay, vốn ngày càng gia tăng việc trao đổi văn hóa và tính đa dạng trong các cộng đoàn quốc tế, người Kitô hữu di dân được mời gọi hội nhập vào môi trường mới bằng cách hiểu biết và tôn trọng các giá trị văn hóa bản địa, đồng thời vẫn giữ vững đức tin và tích cực chia sẻ đức tin đó với người khác. Việc học hỏi văn hóa địa phương không chỉ là yếu tố thiết yếu cho sự hội nhập thành công và phát triển trong bối cảnh mới, mà còn thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa người Kitô hữu di dân và Kitô hữu bản địa, từ đó giúp họ cùng nhau xây dựng và củng cố Giáo hội địa phương.[74]

2. Giáo hội tiếp nhận

Giáo hội tiếp nhận cần chuyển từ phương pháp tiếp cận xem di dân như một “vấn đề” sang trách nhiệm liên đới, nhìn nhận người di dân Việt Nam không phải là vấn đề mà là những chi thể cùng thuộc về Thân Thể Chúa Kitô. Sự thay đổi mô hình này nhất thiết đòi hỏi sự ủng hộ nhiệt tình, việc chăm sóc mục vụ và tiếp cận xã hội. Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở những hành động này thôi là chưa đủ. Để thúc đẩy sứ mạng môn đệ truyền giáo di dân một cách toàn diện, điều thiết yếu là phải tạo ra một môi trường mà ở đó người di dân thực sự được hội nhập vào cộng đoàn Giáo hội địa phương. Việc hội nhập này đòi hỏi phải vượt lên trên hình thức tượng trưng hoặc các sinh hoạt mục vụ song song, để làm nên một kinh nghiệm Giáo hội hiệp nhất.

Một điều đáng quan tâm đối với các giáo hội địa phương là sự cần thiết phải lan tỏa một thái độ tích cực đối với người di dân, cùng với những chương trình mục vụ tương ứng, để thấm nhuần mọi cấp độ của đời sống Giáo hội. Trong khi Giáo hội thường trình bày những giáo huấn đầy cảm hứng ở cấp độ toàn cầu, quốc gia và thậm chí giáo phận, nhưng thực tế tại các địa phương lại có thể hoàn toàn khác. Đúng như câu tục ngữ Việt Nam rất quen thuộc: “Phép vua thua lệ làng”; nói cách khác, các linh mục chánh xứ và những người làm mục vụ, có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến đời sống của di dân Việt Nam, thường thiếu sự hiểu biết đầy đủ hoặc ý thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc tham gia với những anh chị em di dân này trong tư cách là những thành viên thực sự của cộng đoàn và là người đóng góp tiềm năng cho đời sống và sự phát triển của cộng đoàn.

3. Linh hướng mục vụ di dân

Với vai trò quan trọng của các vị linh hướng, điều thiết yếu là những người được bổ nhiệm vào sứ vụ này phải được trang bị khả năng về ngôn ngữ, hiểu biết về văn hóa và pháp luật để phục vụ cộng đoàn di dân cách hiệu quả. Những nhân sự mục vụ này cần được công nhận và hòa nhập như các nhân sự khác trong giáo phận, nhằm bảo đảm họ có thể tham gia tích cực vào đời sống và công tác mục vụ của giáo phận. Việc hội nhập này không những nâng cao hiệu quả công việc mục vụ của họ mà còn giúp thu hẹp khoảng cách giữa cộng đoàn di dân và Giáo hội địa phương. Trở ngại lớn nơi các vị linh hướng trong vai trò đa nhiệm của mình nếu chính các ngài cũng bị gạt ra bên lề hoặc bị xem là “người ngoài” trong Giáo hội, một tình cảnh chẳng khác gì những người di dân mà họ phục vụ.

4. Cơ chế phối hợp

Việc thiết lập cơ chế phối hợp giữa Giáo hội sai đi, Giáo hội tiếp nhận và các vị linh hướng mục vụ di dân là điều hết sức quan trọng. Sự hiệp lực này mở đường cho một đáp ứng phối hợp với những nhu cầu đa diện của người di dân, đồng thời giải quyết những thách đố mang tính hệ thống mà họ gặp phải trong hành trình đức tin và sứ vụ. Trong bối cảnh châu Á, các cơ quan của Giáo hội như Hội đồng Giám mục quốc gia và Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC) có thể đóng vai trò quyết định trong việc thiết định nhiều cơ chế hợp tác hơn, nhằm tăng cường việc chăm sóc mục vụ cho di dân cũng như trao quyền mục vụ môn đệ truyền giáo di dân. Cần lưu ý rằng Ủy ban Mục vụ cho di dân Việt Nam tại Thái Lan chỉ được thành lập sau khi Đức cha Nguyễn Thái Hợp, giám mục giáo phận Vinh đến thăm Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Kriengsak, khi đó ngài là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Thái Lan, để đề nghị Giáo hội Thái Lan quan tâm hơn đến mục vụ di dân Việt Nam. Dù đây là bước khởi đầu quan trọng, nhưng để có một đáp ứng hợp tác trước thực trạng di dân, như tác giả đã đề nghị trong bài viết này, đòi hỏi phải có sự dấn thân sâu rộng và liên tục hơn giữa các Giáo hội sai đi và tiếp nhận, cũng như sự tham gia của những nhân sự liên quan khác.

KẾT LUẬN

Kết lại, chúng ta đã cùng nhau khám phá khái niệm môn đệ truyền giáo di dân, đặc biệt tập trung vào di dân Công giáo Việt Nam tại châu Á. Cuộc khảo sát này tập trung vào tiềm năng to lớn mà các di dân đang sở hữu để tiếp thêm sức mạnh cho nỗ lực loan báo Tin mừng của Giáo hội giữa bối cảnh cộng đoàn già hóa và xã hội tục hóa. Bằng cách đón nhận vai trò như những môn đệ truyền giáo, người di dân có thể góp phần hồi sinh sứ vụ của Giáo hội tại châu Á.

Tuy nhiên, hành trình hiện thực hóa tiềm năng này đầy thách đố. Những trở ngại này, từ cách nhìn nhận của Giáo hội tiếp nhận về người di dân, sự chuẩn bị từ phía Giáo hội sai đi, cho đến những khó khăn cụ thể mà các vị linh hướng và chính người di dân phải đối mặt đòi hỏi một nỗ lực chung nhằm xây dựng một môi trường thuận lợi cho sứ vụ môn đệ truyền giáo di dân. Giáo hội, trong sứ mạng phổ quát của mình được mời gọi vượt qua những rào cản và biến những thách đố này thành cơ hội để lớn lên và canh tân.

Mặc dù bài viết này tập trung vào bối cảnh người Việt Nam, nhiều vấn đề được nêu ra ở đây cũng liên quan đến hoàn cảnh của các nhóm di dân khác, cả ở châu Á và trên thế giới. Việc tháp nhập người di dân vào Giáo hội địa phương, vượt qua mô hình chăm sóc mục vụ đơn thuần để hướng tới việc tham gia tích cực vào sứ mạng của Giáo hội, và nhìn nhận vai trò chủ thể loan báo Tin mừng của người di dân là những chủ đề mang tính phổ quát. Bằng cách giải quyết những vấn đề này, Giáo hội có thể hỗ trợ cách hiệu quả hơn cho nỗ lực truyền giáo nơi các cộng đoàn địa phương, khai thác tiềm năng truyền giáo nơi mọi di dân và cổ vũ một Giáo hội thực sự mang tính hiệp hành; một Giáo hội trong đó sứ mạng được thực hiện qua sự tham gia và hiệp thông của mọi chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô.

* Lm. Anthony Lê Đức, SVD.
PGS.TS. Thần học Luân lý
Đại học Saengtham, Thái Lan
Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứu Châu Á về Tôn giáo và Truyền thông Xã hội
Đại học Thánh Gioan, Thái Lan
leduc.anthony@asianresearchcenter.org

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 150 (tháng 11 & 12 năm 2025)

Nguồn: hdgmvietnam.com

------------------------

[1] Jehu J. Hanciles, Beyond Christendom: Globalization, African Migration, and the Transformation of the West (Maryknoll, N.Y.: Orbis Books, 2008), 6, 296.

[2] Jehu J. Hanciles, “Migration and Mission: Some Implications for the Twenty-first-Century Church,” Missiology 27, no. 4 (Oct 2003): 149.

[3] Hanciles, Beyond Christendom, 1.

[4] Peter C. Phan, “Christianity as an Institutional Migrant: Historical, Theological, and Ethical Perspectives,” in Christianities in Migration: A Global Perspective, ed. Elaine Padila and Peter C. Phan (New York: Palgrave Mcmillan, 2016), 9-36.

[5] Andrew F. Walls, The Missionary Movement in Christian History: Studies in the Transmission of Faith (Maryknoll, N.Y.: Orbis Books, 1996), 16-25.

[6] Văn Thanh Nguyễn, “Christian Witness and Proclamation through Migration,” Religion and Social Communication 22, no. 2 (2024): 397.

[7] Pope Francis, Message for World Day of Migrants and Refugees, 2022, https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/migration/documents/20220509-world-migrants-day-2022.html.

[8] Anthony Lê Đức, “Di dân, di dân Việt Nam trên toàn cầu và trong Giáo hội,” in Di dân Việt Nam với sứ mạng loan báo Tin mừng (Vietnamese Migrants and Mission), ed. Anthony Le Duc (Bangkok: ARC, 2025), 10.

[9] Anthony Lê Đức, “Di dân, di dân Việt Nam trên toàn cầu và trong Giáo hội,” 16.

[10] Islamuddin Sajid, “Foreign Workers in Japan Hit Record High,” January 31, 2025, https://www.aa.com.tr/en/asia-pacific/foreign-workers-in-japan-hit-record-high/3467838.

[11] Ministry of Foreign Affairs, Republic of China (Taiwan), “Growing Ties of Friendship—Taiwanese–Vietnamese Relations over the Years,” November 30, 2023, https://nspp.mofa.gov.tw/nsppe/news.php?post=244875&unit=410&unitname=&postname=Growing-Ties-of-Friendship%E2%80%94Taiwanese%E2%80%93Vietnamese-Relations-over-the-Years.

[12] Yumei Lin, “Southeast Asian Migrant Workers in Taiwan: Human Rights and Soft Power,” CSIS, September 28, 2023, https://www.csis.org/blogs/new-perspectives-asia/southeast-asian-migrant-workers-taiwan-human-rights-and-softpower#:~:text=There%20are%20currently%20around%20700%2C000,960%2C000%20foreign%20residents%20in%20Taiwan.&text=Most%20of%20these%20laborers%20are,Philippines%2C%20Vietnam%2C%20and%20Thailand

[13] Korea Info, “Số người Việt Nam cư trú tại Hàn Quốc khoảng 271.712 người,” October 21, 2024, https://www.korea.info.vn/2024/10/so-nguoi-viet-nam-cu-tru-tai-han-quoc.html.

[14] Ivan V. Small, “Assimilating Southeast Asian Migrants into South Korea: Expanding the Meaning of Being ‘Korean’,” Fulcrum, February 5, 2021, https://fulcrum.sg/assimilating-southeast-asian-migrants-into-south-korea-expanding-the-meaning-of-being-korean/.

[15] Anthony Lê Đức, “The Role of Social Media in Community Building for Illegal Vietnamese Migrant Workers in Thailand,” Journal of Identity and Migration Studies 10, no. 1 (2016): 4–21.

[16] Duy Linh, “Việt Nam đang có khoảng 600.000 nhân lực chất lượng cao ở nước ngoài,” Tuổi Trẻ Online, 14/12/2023, https://tuoitre.vn/viet-nam-dang-co-khoang-600-000-nhan-luc-chat-luong-cao-o-nuoc-ngoai-20231214182037416.htm

[17] Susan Klemond, “From Surviving to Thriving: Once Refugees, Vietnamese Catholics Make Up Vibrant Part of US Church Today.” NCR, August 25, 2022, https://www.ncregister.com/news/from-surviving-to-thriving-once-refugees-vietnamese-catholics-make-up-vibrant-part-of-us-church-today.

[18] This number only counts Vietnamese-born individuals. Department of Home Affairs, “Country Profile – Vietnam,” https://www.homeaffairs.gov.au/research-and-statistics/statistics/country-profiles/profiles/vietnam#

[19] Statistics of the Catholic Church in Japan. “Catholics in Japan”, Tokyo: Catholic Bishops’ Conference of Japan, https://www.cbcj.catholic.jp/wp-content/uploads/2022/08/statistics2021.pdf, 1.

[20] Phạm Trọng Quang, “Di dân với sứ vụ truyền giáo của Giáo hội Công giáo tại Đài Loan,” in Di dân Việt Nam với sứ mạng loan báo Tin mừng (Vietnamese Migrants and Mission), ed. Anthony Lê Đức (Bangkok: ARC, 2025), 231.

[21] Asaree Thaitrakulpanich, “Here’s Pope Francis’ Schedule for His Thailand Visit,” Khaosod English, October 2, 2019, https://www.khaosodenglish.com/news/2019/10/02/heres-pope-francis-schedule-for-his-thailand-visit/.

[22] ZENIT, “South Korea: statistics show vitality of Catholicism, 11.3% of the population,” May 7, 2024, https://zenit.org/2024/05/07/south-korea-statistics-show-vitality-of-catholicism-11-3-of-the-population/.

[23] Andrés Henríquez, “Archbishop of Tokyo: An Aging Society like Japan’s Will Not Survive,” Catholic News Agency, November 22, 2024, https://www.catholicnewsagency.com/news/260647/archbishop-of-tokyo-an-aging-society-like-japans-will-not-be-able-to-survive.

[24] Phạm Trọng Quang, “Di dân với sứ vụ truyến giáo của Giáo hội Công giáo tại Đài Loan,” 241.

[25] Pan Tzu-yu and Wu Kuan-hsien, “Taiwan’s Declining Birth Rate Difficult to Reverse: Official,” Focus Taiwan, October 24, 2024, https://focustaiwan.tw/society/202410240013.

[26] CAN, “Church in South Korea Growing, Slowly.” Catholic News Agency, April 27, 2020, https://www.catholicnewsagency.com/news/44334/church-in-south-korea-growing-slowly.

[27] Christopher Hamill-Stewart, “South Korea’s Fertility Rate Should Be a Warning to the World,” Salzburg Global, September 30, 2024, https://www.salzburgglobal.org/newsroom/latest-news/south-koreas-fertility-rate-should-be-a-warning-to-the-world#:~:text=South%20Korea%E2%80%99s%20fertility%20rate%20hit,fertility%20replacement%20rate%20of%202.

[28] Bangkok Post, “Don’t Ignore Birth Rate Dip,” editorial, December 23, 2024, https://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/2925101/dont-ignore-birth-rate-dip

[29] UCA News, “Dealing with Secularization and Its Consequences in Japan,” May 29, 2023, https://www.ucanews.com/news/dealing-with-secularization-and-its-consequences-in-japan/101455.

[30] Phạm Trọng Quang, “Di dân với sứ vụ truyền giáo của Giáo hội Công giáo tại Đài Loan,” 241.

[31] It must be noted that in the Asian spiritual milieu, atheism, or not believing in a monotheistic God does not necessary mean that there is lack of spirituality and religiosity. Asians who practice Daoism, Confucianism, Shintoism, and Buddhism often declare that they do not follow a religion or believe in God.

[32]Isabella Kasselstrand, Phil Zuckerman, and Ryan T. Cragun, Beyond Doubt: The Secularization of Society (New York: New York University Press, 2023).

[33] Sam Hyun Yoo and Victor Agadjanian, “The paradox of change: Religion and fertility decline in South Korea,” Demographic Research 44, Article 23 (2021): 541.

[34] UCA News, “Korean Religious Blame Secularization for Vocation Decline,” January 26, 2024, https://www.ucanews.com/news/korean-religious-blame-secularization-for-vocation-decline/103953.

[35] Kasselstrand, et al., Beyond Doubt, 113.

[36] José Casanova, Public Religions in the Modern World (Chicago: The University of Chicago Press), 11-12.

[37] Rodney Stark, “Secularization, R.I.P.” Sociology of Religion 60, no. 3 (1999): 8.

[38] UCA News, “The Fading Japanese Church, the Growing Church in Japan,” May 2, 2023, https://www.ucanews.com/news/the-fading-japanese-church-the-growing-church-in-japan/101175.

[39] US Department of State, 2023 Report on International Religious Freedom: Thailand, https://www.state.gov/wp-content/uploads/2024/04/547499-thailand-2023-international-religious-freedom-report.pdf.

[40] Information presented here comes from the author’s experience working in the Thai Church and conversations with various individuals in the Church.

[41] For a more comprehensive discussion on Vietnamese migrants in Asia, see Anthony Le Duc and Nguyen Quoc Thuan, eds. Di dân Việt Nam tại châu Á (Vietnamese Migrants in Asia) (Manila: Logos, 2020).

[42] In reality, many Vietnamese migrants, through agencies, attempt to go to Korea and Japan via the student visa route, with the ultimate aim of “jumping ship” to work once they have managed to make it into the country.

[43] The inquiry was made directly to the General Secretary of the Bishops Conference of Vietnam by the author on February 17, 2025.

[44] Presently, the number of groups range between 15-17.

[45] Stephen Bevans, “Migration and Mission: Pastoral Challenges, Theological Insights,” in Contemporary Issues of Migration and Theology, ed. Elaine Padilla and Peter C. Phan (New York: Palgrave Macmillan US, 2013), 168.

[46] Pope Francis, Message for World Day of Migrants and Refugees, 2014, https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/migration/documents/papa-francesco_20130805_world-migrants-day.html.

[47] Pope Francis, Message for World Day of Migrants and Refugees, 2014.

[48] Pope Francis, Message for World Day of Migrants and Refugees, 2021, https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/migration/documents/papa-francesco_20210503_world-migrants-day-2021.html.

[49] Pope Francis, Message for World Day of Migrants and Refugees, 2016, https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/migration/documents/papa-francesco_20150912_world-migrants-day-2016.html.

[50] Pope Francis, Message for World Day of Migrants and Refugees, 2022, https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/migration/documents/20220509-world-migrants-day-2022.html

[51] Pope Francis, Message for World Day of Migrants and Refugees, 2021.

[52] Hanciles, Beyond Christendom, 298–299.

[53] Hanciles, Beyond Christendom, 298, 324–349.

[54] USCCB, “Vietnamese Vocations,” https://www.usccb.org/beliefs-and-teachings/vocations/vocation-directors/vietnamese-vocations#:~:text=Vietnamese%20men%20currently%20make%20up,Vietnamese%20priests%20in%20the%20US.

[55] Phạm Trọng Quang, “Di dân với sứ vụ truyến giáo của Giáo hội Công giáo tại Đài Loan,” 240.

[56] Pope Paul VI, Ecclesiam Suam, 1964, https://www.vatican.va/content/paul-vi/en/encyclicals/documents/hf_p-vi_enc_06081964_ecclesiam.html.

[57] Pontifical Council for Interreligious Dialogue, “Dialogue and Proclamation,” 1991, https://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/interelg/documents/rc_pc_interelg_doc_19051991_dialogue-and-proclamatio_en.html.

[58] Henríquez, Andrés. “Archbishop of Tokyo: An Aging Society like Japan’s Will Not Survive,” Catholic News Agency, November 22, 2024, https://www.catholicnewsagency.com/news/260647/archbishop-of-tokyo-an-aging-society-like-japans-will-not-be-able-to-survive.

[59] Phạm Trọng Quang, “Vài nét về mục vụ di dân của Giáo hội Đài Loan,” in Di Dân Việt Nam Tại Á Châu (Vietnamese Migrants in Asia), ed. Anthony Le Duc and Nguyen Quoc Thuan (Manila: Logos, 2020), 126-156.

[60] UCANews, “Korean Catholics Urged to Protect Migrants, Refugees,” September 27, 2023, https://www.ucanews.com/news/korean-catholics-urged-to-protect-migrants-refugees/102725.

[61] UCA News, “The Fading Japanese Church, the Growing Church in Japan.”

[62] Direct communication via social media on February 19, 2025.

[63] Nguyễn Văn Quy, Direct Communication via Social Media, February 14, 2025.

[64] Đặng Quốc Cường, Direct communication via Social Media, February 27, 2025.

[65] Nguyễn Văn Quy, Direct Communication via Social Media, February 14, 2025.

[66] Direct Communication via Social Media on February 13, 2025.

[67] Lê Công Đức, “Vài suy nghĩ về giáo dục đức tin toàn diện trong tầm nhìn sứ mạng,” in Di dân Việt Nam với sứ mạng loan báo Tin mừng (Vietnamese Migrants and Mission), ed. Anthony Le Duc (Bangkok: ARC, 2025), 296-307.

[68] Direct Communication via Social Media on February 13, 2025.

[69] Joseph Nguyễn Hải Phương, Direct Communication via Social Media on February 13, 2025.

[70] Tạ Thạch, Direct Communication via Social Media on February 19, 2025.

[71] Hy Nguyễn, Direct Communication via Social Media on February 22, 2025.

[72] Nguyễn Hải Phương, “Di dân Việt Nam với sứ mệnh truyền giáo trong bối cảnh Thái Lan,” in Di dân Việt Nam với sứ mạng loan báo Tin mừng (Vietnamese Migrants and Mission), ed. Anthony Le Duc (Bangkok: ARC, 2025), 249–271.

[73] Henríquez, Andrés, “Archbishop of Tokyo: An Aging Society like Japan’s Will Not Survive,” Catholic News Agency, November 22, 2024, https://www.catholicnewsagency.com/news/260647/archbishop-of-tokyo-an-aging-society-like-japans-will-not-be-able-to-survive.

[74] Đặng Quốc Cường, Direct Communication via Social Media on February 27, 2025.

CHIA SẺ BÀI VIẾT