Header

Suy Niệm Lời Chúa | Chúa Nhật Tuần III Mùa Chay - Năm A | Ga 4,5-42 | Lm Alfonso Nguyễn Quang Hiển - Gp Phú Cường

Lời Chúa hôm nay là một trong những trang tuyệt đẹp của Tin mừng theo thánh sử Gioan giúp cho mỗi người chúng ta có câu trả lời. Trước tiên, hãy hình dung khung cảnh mà thánh sử Gioan thuật lại cuộc gặp gỡ rất đặc biệt giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ vùng Samari. Cũng tương tự như văn hoá Việt Nam, “cái giếng giữa làng, cái ao đầu làng” là nơi của sự sống, nơi để gặp gỡ, nơi để giao tiếp thông tin. Và Chúa đã đến với những hoàn cảnh rất đời thường của con người như thế...
SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT TUẦN III MÙA CHAY - NĂM A

Bài đọc I: Xh 17,3-7

“Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống”.

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môisen rằng: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai Cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môisen kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo Môisen: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môisen làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?” Đó là lời Chúa.

Đáp ca: Tv 94,1-2.6-7.8-9

Đáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!” (c.8)

1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Đá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người! – Đáp.

2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Đấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta,và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. – Đáp.

3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”. – Đáp.

Bài đọc II: Rm 5,1-2.5-8

“Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta”.

Trích thư thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta. Đó là lời Chúa.

Câu xướng trước Tin mừng: Ga 4,42 và 15

Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan Ga 4,5-42

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu. Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do Thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do Thái không giao thiệp gì với người Samaria). Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: ‘Xin cho tôi uống nước’, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?” Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói ‘tôi không có chồng’ là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”. Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.

Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Đấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do Thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Đấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Đấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Đấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Đúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế”. Đó là lời Chúa.

Suy niệm

Trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature ngày 10/9/2025, các nhà khoa học của cơ quan hàng không vũ trụ Hoa Kỳ gọi tắt là NASA dựa vào những dấu hiệu gián tiếp cho rằng có khả năng Sao Hoả có môi trường cho vi sinh vật phát triển. Khi phân tích các mẫu đá do robot tự hành Perseverance thu thập tại miệng hố Jezero Crater, họ nhận ra những bằng chứng thuyết phục nhất từ trước đến nay về khả năng nơi đây từng có nước, một lòng sông hay hồ cổ.

Nước là biểu tượng thiêng liêng của sự sống. Và nơi nào có nước, nơi đó có khả năng có sự sống. Nước chiếm khoảng 60% cơ thể con người và là thành phần bắt buộc cho mọi sinh vật. Nước chiếm ¾ tổng lượng nước trên trái đất, trong đó dầu là chỉ có 3% nước ngọt là có thể khai thác dùng làm nước uống được. Vì thế mà Ngày Lương thực Thế giới năm 2023 đã có chủ đề “Nước là sự sống, nước là thực phẩm. Không để ai bị bỏ lại phía sau” nhằm mục đích nêu bật vai trò quan trọng của nước đối với sự sống trên trái đất. Thiếu nước, sự sống không thể tồn tại.

Thế nhưng, Lời Chúa hôm nay, còn nói với chúng ta về một loại “nước” khác, một thứ nước không chỉ làm dịu cơn khát thân xác, nhưng làm dịu cơn khát sâu thẳm của linh hồn con người.

Bài đọc thứ I trích chương 17 sách Xuất Hành tường thuật một loạt những thử thách mà dân Israel đã trải qua trong suốt cuộc hành trình trong sa mạc. Cơn khát về thể lý làm cho họ từ chỗ phàn nàn với ông Môisen đến việc muốn nổi loạn: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai Cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Từ cơn khát thể lý đã có thấy thực tại đằng sau đó là cơn khát niềm tin khi họ than trách: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?” Họ nghi nan liệu có Thiên Chúa hiện diện ở giữa dân Ngài không mà lại để cho họ cực khổ như vậy. Trước sự thách thức vì yếu lòng của dân, Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn đáp lại nhu cầu của dân, cho nước từ tảng đá chảy ra cho dân uống no thoả.

Con người hôm nay cũng đang khao khát. Nhiều khi chúng ta không khát nước, nhưng lại khát rất nhiều điều khác: Cuộc chiến Đông Âu trải qua bốn năm chưa tìm ra được giải pháp ngưng chiến, cuộc chiến Trung Đông đang còn rất nóng hổi với những tin tức được cập nhật hàng giờ ảnh hưởng trên toàn thế giới, việc những nhóm lừa đảo đang diễn ra tại Đông Nam Á đang hoành hành. Nhân loại đang khao khát bình an, các doanh nghiệp khao khát nền kinh tế ổn định, người dân khao khát thị trường bớt lạm phát để vật giá không bị leo thang, người làm công khao khát đồng lương đủ nuôi sống gia đình, gia đình khao khát những người thanh niên từ chiến trận trở về bình an… Chung quy lại, con người như đang khát tình yêu, khát bình an, khát được thấu hiểu, khát ý nghĩa cuộc đời. Và ai sẽ đem lại cho con người sự no thoả ấy?

Lời Chúa hôm nay là một trong những trang tuyệt đẹp của Tin mừng theo thánh sử Gioan giúp cho mỗi người chúng ta có câu trả lời. Trước tiên, hãy hình dung khung cảnh mà thánh sử Gioan thuật lại cuộc gặp gỡ rất đặc biệt giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ vùng Samari. Cũng tương tự như văn hoá Việt Nam, “cái giếng giữa làng, cái ao đầu làng” là nơi của sự sống, nơi để gặp gỡ, nơi để giao tiếp thông tin. Và Chúa đã đến với những hoàn cảnh rất đời thường của con người như thế. Giữa cái nắng chói chang của vùng đất khô cằn Palestin, lại vừa đi một chặng đường mệt nhọc và kiệt sức, Chúa Giêsu ngồi nghỉ tựa lưng vào thành miệng giếng vào khoảng giờ thứ sáu. Người biết nơi đây những người trong làng sẽ tới lấy nước. Đúng lúc ấy, một người phụ nữ xứ Samaria đội một vò tới kín nước. Người liền bảo: “Xin bà cho tôi uống nước”.

Theo Noel Quesson chú giải rằng đối với tập tục Do Thái, ở đây Chúa Giêsu vi phạm ba điều cấm kỵ: về giới tính, chủng tộc, và tôn giáo. Trước tiên, ở phương Đông, người ta cấm nói chuyện với với một người phụ nữ ở chỗ công cộng. Thêm vào đó, sự việc xảy ra tại Samari, trong khi miền đất này ngày xưa đã từng là đất thánh của các tổ phụ, nhưng kể từ cuộc lưu đày, những người Do Thái đều khinh miệt người Samari vì cho rằng họ là dân lai căn, rối đạo và sùng bái thần tượng, nên tránh lai vãng tiếp xúc. Và trước mặt Chúa Giêsu lại là một người phụ nữ có đời sống luân lý phức tạp. Trong khi đó, có hai cách lựa chọn để đi lại: lựa chọn “nên đi”, khó khăn vất vả hơn vì nắng nóng; và lựa chọn “không nên đi” vì ngang qua ngã Samari bị cho vùng đất ô uế mà đối với những người Do Thái phải thường xuyên giữ mình sạch sẽ theo luật tế tự. Chúa Giêsu cố tình chọn cách “băng qua Samari”. Theo X. Dufour, có lẽ để chứng tỏ Người đến “để hoà giải các dân tộc, nối kết những anh em đã phân ly”.

Đề tài về “nước” xem ra quá đơn giản xét về bên ngoài lại rất quý giá vì giữa một thiên nhiên khắc nghiệt do hạn hán và sa mạc nóng cháy. Sự việc diễn ra bên bờ giếng Giacob trở thành nơi có tính chất biểu tượng về tinh thần. Và với phương diện đức tin, thì những ai thông thạo Kinh Thánh sẽ thấy nước tượng trưng cho sự thánh thiện, nơi thiết lập giao ước, sự chữa lành, sự thanh tẩy, sự trợ giúp của Chúa, sức sống mới của Chúa.

Người phụ nữ bỡ ngỡ trước lời đề nghị khó hiểu, và chị không ngại mở lòng để trao đổi, bằng một loạt câu hỏi: “Sao thế! Ông là người Do Thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” và “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước?” Người phụ nữ đang từng bước được đưa vào một cuộc mặc khải nhiệm mầu chưa từng có: “Nếu chị nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với chị: ‘Xin cho tôi uống nước’, thì chắc chị sẽ xin Người, và Người sẽ cho chị nước hằng sống”.

Chúa Giêsu biết rằng trong tâm khảm con người dù là nam hay nữ, già hay trẻ, luôn có một thứ khát khao muốn được thoả mãn đó là Chân Lý. Tự bản chất con người có tính tôn giáo, cho nên con người khát khao về Đấng thần linh mà con người tìm kiếm và thờ phượng. Cho nên, từ chỗ là một người đi xin chút nước uống giải tỏa cơn khát của cái nắng chói chang ngay giờ ngọ, dần dà Chúa Giêsu cho con người biết sự khát khao đích thực. Sau một tiến trình khai mở tâm hồn người nghe và giảng dạy giáo lý cho họ, Người đã chốt lại bằng một cái nhìn đức tin: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Người phụ nữ Samaria ban đầu chỉ nghĩ đến nguồn nước để khỏi phải cực công đi kín nước mỗi ngày. Dần dần, cuộc đối thoại mở ra khi Chúa cho chị biết rằng Người biết sự thật về cuộc đời chị. Cuộc đời chị là một chuỗi những tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc và chỗ dựa. Tất cả những điều đó không làm chị hết khát. Chinh thánh Augustinô thành Hippo đã nói một câu nổi tiếng trong tác phẩm Tự Thuật: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.” Đó là sự thật về con người: mọi cơn khát sâu thẳm nhất của chúng ta chỉ có Thiên Chúa mới làm dịu được.

Đây cũng là một tiến trình giáo dục đức tin, chuẩn bị cho người Dự Tòng lãnh nhận các bí tích khai tâm vào đêm Phục Sinh. Lộ trình này trong Phụng vụ Mùa Chay năm A dành cho các anh chị em đang tìm hiểu Đạo đi từ thắc mắc về phương diện nước vật lý giúp giải cơn khát thể lý và hướng tới Chúa Giêsu là Nước Hằng Sống (Chúa nhật III), là Ánh Sáng cứu độ (Chúa nhật IV) và là Sự Sống đời đời (Chúa nhật V). Thật vậy, Chúa Giêsu chính là nguồn nước ban sự sống, thanh tẩy tội lỗi, hoán cải đời sống, đem lại niềm vui và dẫn đưa đến cuộc sống muôn đời.

Có những lúc vì tính hơn thua, lòng khao khát muốn sở hữu mà con người ta dễ dàng mâu thuẫn nhau, nào là Chúa của tôi với Chúa của anh, nào là phải thờ phượng Thiên Chúa ở trên núi Garizim miền Samari, hay trên núi Sion ở Giêrusalem. Song, Chúa Giêsu Chúa Giêsu đã giúp con người nhận ra đời sống chúng ta chỉ trở nên tốt lành và nên chứng nhân khi làm sao phản ánh được là mình có Chúa. “Những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn”.

Sứ điệp Mùa Chay năm 2026 có đoạn viết: “Mọi hành trình hoán cải bắt đầu khi chúng ta để cho Lời Chúa chạm đến mình và đón nhận Lời ấy với một tinh thần nhu thuận”. Người phụ nữ đã dám mở lòng với một tâm hồn nhu thuận để Lời Chúa đánh động mình. Qua cuộc đối thoại, Người đã được đón tiếp không phải chính tại miền Giuđê, nhưng tại vùng đất Samari, giữa những người bị xem là dân ngoại, lai căn và tội lỗi vì họ dám mở lòng để niềm khát khao Chân Lý được thoả mãn. Và hoa trái của cuộc gặp gỡ đó là một cuộc biến đổi. Từ một người bị xã hội lên án khiến chị phải đi kín nước ban trưa về cho gia đình để tránh những ánh nhìn xét nét, bây giờ người phụ nữ nhận ra một điều còn quan trọng hơn khiến chị không luyến tiếc cái giếng thỏa mãn cơn khát thân xác. Chị sẵn sàng bỏ lại tất cả, vò nước, người tình và cuộc đời tội lỗi, để chạy đi cao rao cho mọi người trong thành Samaria về Nguồn Nước Hằng Sống mà chị vừa khám phá ra đã có tính chất quyết định cho cuộc đời chị: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Đấng Kitô?” Đó cũng chính là điều mà dân chúng bấy lâu khát khao kiếm tìm nên mau mắn tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Người. Kết cuộc là tự miệng họ tuyên xưng niềm tin vào Người: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế”.

Hẳn là Chúa Giêsu đã nở nụ cười thật tươi vì dân làng Samari nhận ra Đấng Cứu Thế đang ở giữa họ, Người đem đến cho họ nguồn nước tái sinh, Nước Hằng Sống. Và Người quyết định ở lại với họ lâu hơn để rao giảng Tin Mừng cho họ: “Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt.” Câu chuyện này không chỉ là câu chuyện của một người phụ nữ, hay dân thành Samari cách đây hai ngàn năm. Đó cũng là câu chuyện của mỗi người chúng ta, những người đang khát khao lòng thương xót của Thiên Chúa. Đã nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng có những chiếc “vò nước” của riêng mình mà mình khao khát đong đầy: nào là tiền bạc, danh vọng, quyền lực, những thú vui chóng qua. Chúng ta tưởng rằng những điều đó sẽ làm mình hạnh phúc. Có những điều chúng ta đạt được rồi thì lại không mãn nguyện được. Và sau một thời gian, chúng ta lại khát trở lại. Vâng, chỉ có Chúa Kitô mới là Nguồn Nước Hằng Sống.

Câu chuyện “Người cha và bức thư cuối cùng” như sau: trong đại dịch Covid-19, tại một bệnh viện ở Milan vào năm 2021, một vị linh mục được gọi đến để ban Bí tích Xức Dầu Thánh cho một người bệnh nhân đang hấp hối. Người đàn ông ấy khoảng hơn sáu mươi tuổi bị cách ly nhiều tuần trong phòng bệnh. Gia đình chỉ có thể nói chuyện với ông qua điện thoại mà không thể được vào thăm. Trước khi qua đời, ông xin một tờ giấy và viết một bức thư cho con gái. Trong bức thư, ông viết: “Cha đã dành cả đời để làm việc, để kiếm tiền, để lo cho gia đình. Nhưng bây giờ, khi nằm ở đây một mình, cha nhận ra điều cha cần nhất không phải là tiền… Cha chỉ ước được nắm tay con một lần nữa.” Sau đó ông viết thêm một dòng rất ngắn: “Nếu cha có thêm thời gian, cha sẽ sống khác đi.” Ít giờ sau, ông qua đời. Câu chuyện ấy khiến nhiều đọc giả đã rơi nước mắt, bởi vì nó nói lên một sự thật rất đơn giản: Con người có thể có rất nhiều thứ, nhưng vẫn khát điều quan trọng nhất. Khát tình yêu khát sự hiện diện, khát ý nghĩa cuộc đời. Đó chính là cơn khát sâu thẳm trong tâm hồn con người.

Không bao giờ là quá muộn, dù bạn và tôi tội lỗi cỡ nào đi nữa, chúng ta cũng được mời gọi Mùa Chay Thánh này, hãy trở về với Chúa. “Lòng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta”. Hãy can đảm trở về với Chúa là Đấng làm cho con người được no thoả. Như lời thánh Phaolô Tông đồ trong thơ gởi tín hữu Rôma (Rm 5,1-2;5-8) mà chúng ta nghe qua Bài đọc thứ II: “Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.”

Thế giới hôm nay đang bị chia rẽ rất nhiều: chia rẽ trong gia đình, giữa bạn bè, nơi làm việc, chia rẽ trong xã hội trên các trang mạng, trên các phương tiện truyền thông, trong các cuộc tranh luận chính trị, chia rẽ và trong các cộng đoàn Kitô hữu, giữa các dân tộc. Đúng vậy, có khi chúng ta ăn chay rất tốt: không ăn thịt, kiêng khem trong việc ăn uống, bớt chi tiêu để làm nhiều việc bác ái, nhưng đôi khi chúng ta lại không “ăn chay trong lời nói”.

Vì thế mà ngày 13/02/2026 vừa qua, Đức Thánh cha Lêô thứ XIV đã công bố sứ điệp Mùa Chay 2026, khuyến khích mỗi Kitô hữu sống Mùa Chay với ba thái độ rất quan trọng: lắng nghe – hoán cải – và thanh luyện lời nói. Đức Lêô đặc biệt nhấn mạnh một việc ăn chay rất cụ thể: “Một hình thức kiêng khem thường ít được coi trọng: đó là kiêng bớt những lời nói gây tổn thương và đau lòng cho người khác”. Hãy bắt đầu giải giới nơi ngôn ngữ của mình: từ bỏ lời cay nghiệt, những xét đoán vội vàng, việc nói xấu người vắng mặt không thể tự bảo vệ mình, và những lời vu khống. Thay vào đó, hãy học cách cân nhắc lời nói và nuôi dưỡng sự hiền hòa, “giải trừ vũ khí của lời nói” để xây dựng hòa bình trong thế giới.

Lạy Chúa, Mùa Chay này Chúa cũng đang ngồi bên giếng cuộc đời của con. Chúa biết con khao khát nhiều lắm, muốn nắm giữ nhiều lắm. Và Chúa cũng đang chờ con đến với Chúa bằng tất cả con người của con, như một chiếc vò cần được đong đầy, sẵn sàng để Chúa cho con nguồn Nước Hằng Sống là chính Chúa qua Thánh Thể Chúa đang nơi nhà Chầu chờ đợi con. Trong thinh lặng ấy, chỉ có Chúa mới có thể thanh luyện trái tim và con người hèn yếu của con. Từ đó, con mới có thể trở nên nguồn nước mát cho anh chị em, trở nên “môn đệ thừa sai của Chúa” trong cung cách sống của một người có Chúa, một người hiền hoà, một người vị tha như Chúa. Amen.

CHIA SẺ BÀI VIẾT