
Suy Niệm Lời Chúa | Lễ Kính Thánh Phêrô Đoàn Công Quý - Bổn Mạng Giáo Phận Phú Cường | Lm Alfonso Nguyễn Quang Hiển-Gp Phú Cường
SUY NIỆM LỜI CHÚA
31/7: LỄ KÍNH THÁNH PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG QUÝ
BỔN MẠNG GIÁO PHẬN PHÚ CƯỜNG
Bài đọc I: 2 Mcb 7, 1.20-23.27b-29
Bà mẹ là người đáng khâm phục, vì bà can đảm chịu đựng nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa.
Bài trích sách Maccabê quyển thứ II.
Hồi ấy, có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua Antiôkhô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Môisen cấm. Bà mẹ là người rất mực xứng đáng cho ta khâm phục và kính cẩn ghi nhớ. Bà thấy bảy người con trai phải chết nội trong có một ngày, thế mà bà vẫn can đảm chịu đựng nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa. Bà dùng tiếng mẹ đẻ mà khuyến khích từng người một, lòng bà đầy tâm tình cao thượng; lời lẽ của bà tuy là của một người phụ nữ, nhưng lại sôi sục một chí khí nam nhi; bà nói với các con: “Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con hơi thở và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con hơi thở và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình.” Bà nói với người con út : “Con ơi, con hãy thương mẹ: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, mẹ đã nuôi nấng dạy dỗ con đến ngần này tuổi đầu. Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy. Con đừng sợ tên đao phủ này; nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ.” Đó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 125, 1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6
Ðáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.
Xướng: Khi Chúa đem những người Sion bị bắt trở về, chúng tôi dường như Người đang mơ, bấy giờ miệng chúng tôi vui cười, lưỡi chúng tôi thốt lên những tiếng hân hoan.
Xướng: Bấy giờ dân thiên hạ nói với nhau rằng: “Chúa đã đối xử với họ cách đại lượng”. Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.
Xướng: Lạy Chúa, xin hãy đổi số phận của con, như những dòng suối ở miền nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan.
Xướng: Thiên hạ vừa đi vừa khóc, tay mang thóc đi gieo; họ trở về hân hoan, vai mang những bó lúa.
Bài Ðọc II: Rm 8,31b-39
Dù sự chết hay sự sống cũng không tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
Bài trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Thưa anh em, có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta? Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta? Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có lời chép : Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, 39 trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta. Ðó là lời Chúa.
Alleluia, alleluia! (Mt 5,10): Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Alleluia
Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca (Lc 9,23-26)
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với mọi người: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì? Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần. Ðó là lời Chúa.
Suy niệm
Thánh Phêrô Đoàn Công Quý chào đời năm 1826 tại thôn Hưng Định, tổng Bình Thạnh, hạt Thủ Dầu Một, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa, Giáo phận Đàng Trong, nay thuộc Giáo phận Phú Cường.
Theo lịch sử ghi lại, vào giữa thế kỷ XVIII, có người tên Giuse Nguyễn Thới Bình (còn gọi là ông Nguyễn Văn Bình, gốc Quảng Bình) sau khi từ quan đã xuôi ghe bầu vào Nam hành nghề Đông y bán thuốc trị bịnh ở Lái Thiêu. Chuyện là chiếc ghe bầu men theo con sông Sài Gòn từ Lái Thiêu ngược lên, gặp ngay búng nước phun trào, ông Bình coi đó là dấu chỉ Thiên Chúa an bài nên cho ghe neo lại ngay đầu vàm ấy. Ông Bình được gọi là ông Cả làng, vì hô hào các người đồng hương ở Huế vô Nam định cư như cụ Đoàn Công Tùng - ông cố nội của Thánh Quý, ông Hương, ông Bời, ông Dũi đã gầy dựng nên làng Hưng Định. Tên làng được ghép từ tên hai người con ông Cả Bình là bà Nguyễn Thị Hưng và ông Nguyễn Văn Định. Cùng với các người Công giáo này, ông lập Họ đạo Búng, và là ông trùm đầu tiên của họ đạo. (Chỗ mà hiện nay thuộc vườn măng cụt nhà thờ họ đạo Bình Sơn, lưu giữ mảnh đất như một “thánh tích” ghi dấu nơi Thánh Quý được Rửa Tội. Cư dân những nơi lân cận dần cũng tới sinh sống ngày một đông nơi búng nước này.
Thân sinh của Thánh Quý là ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Thường, một gia đình quyền quý và đạo đức. Ông bà có sáu người con lần lượt là: Phêrô Đoàn Công Thới, Maria Đoàn Thị Bường, Augustinô Đoàn Công Đã, Micae Đoàn Công Rạng, Antôn Đoàn Công Báu. Cậu con trai thứ sáu cũng là cậu con út được đặt tên là Phêrô Đoàn Công Quý chào đời vào năm 1826. Tên Quý (季): phiên âm tiếng Hán là “guì”, đọc ra tiếng Hán-Việt là “quý” là cách người xưa gọi người con út trong gia đình. Quý vừa còn có một ý thứ hai nữa đó là (貴), nghĩa là quý giá, trân quý, nâng niu. (Một số nơi gọi là “Quí” cũng có thể chấp nhận được. Bộ từ điển giải thích tiếng Việt đầu tiên mang tên "Đại Nam quấc âm tự vị" được xuất bản tại Sài Gòn năm 1895–1896, tác giả Huỳnh Tịnh Của là bộ từ điển tiếng Việt đầu tiên do người Việt soạn thảo trực tiếp bằng chữ Quốc ngữ. Chính ông cũng viết tên mình là Huình Tịnh Paulus Của, do vào thế kỷ XIX, quy tắc chính tả chưa đồng bộ như hiện nay. Theo dòng thời gian, tiến trình phát triển của ngôn ngữ học được Bộ Giáo dục quy định. Văn bản mới nhất về Quy tắc chính tả hiện hành tuân theo Quyết định số 1989/QĐ-BGDĐT năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.)
Cậu Quý từ nhỏ đã siêng năng giúp lễ nhà thờ họ đạo Búng và được Cha Tám chánh sở thương hướng dẫn về đàng đạo đức và ơn gọi làm linh mục. Thấy cậu thông minh, lại ngoan ngoãn, cha Tám giới thiệu cậu với cha thừa sai Gioan Miche (Mịch) để học kinh sách và tiếng Latinh. Cậu tiếp tục đường tu học tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn ở Thị Nghè, thuộc tỉnh Gia Định, dưới sự huấn luyện của Cha bề trên Borelle. Tới năm 1848, với chức thầy giảng, thầy Quý được gởi đi du học tại Đại Chủng viện của Hội Thừa sai Paris bên Penang (Mã Lai) để trau dồi lý đoán, thần học, văn chương, ngôn ngữ.
Ngày 11.4.1855, thầy Quý hồi hương trong bối cảnh vua Tự Đức ra sắc chỉ cấm đạo Công giáo. Tình thế mỗi ngày một căng thẳng hơn khi vua Tự Đức lại ban sắc chỉ thứ ba, ra lệnh truy nã bắt hết các đạo trưởng, tín hữu phải xuất giáo, các nhà thờ và chủng viện phải bị phá hủy. Trong tình thế hiểm nguy đó, Đức Giám mục Dominique Lefèbvre (Ngãi) tin tưởng giao cho thầy nhiệm vụ đi lại âm thầm thăm viếng, dạy giáo lý và nâng đỡ đức tin giáo hữu tại các họ đạo. Lúc này thân phụ thầy Quý đã qua đời.
Sau 3 năm nhiệt thành hy sinh, tháng 9 năm 1858, thầy Quý được thụ phong Linh mục tại nhà thờ Thủ Dầu Một (nay là Nhà thờ Chánh Tòa Phú Cường). Cha Quý lần lượt được bổ nhiệm phục vụ tại các họ đạo Lái Thiêu, Gia Định và Kiến Hòa, rồi làm cha phó xứ Cái Mơn ở Vĩnh Long. Khi cha Quý về Cái Mơn thì cũng chính là thời điểm năm 1858 Pháp và Tây Ban Nha đưa quân đội vào cửa Hàn, Đà Nẵng. Trước tình thế đó, vua Tự Đức quay ra căm thù các giáo sĩ ngoại quốc và đạo Công Giáo. Vì vậy, những cuộc truy nã các vị Thừa Sai cũng như các tin hữu rất gắt gao.
Cuộc bách hại đạo Công giáo của vua Tự Đức ngày càng khốc liệt, quân lính bao vây Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn để lùng bắt giáo sĩ, nhưng vì không bắt được ai nên họ bắt giam một nữ tu để tra khảo. Cha Quý đã từng sẵn sàng nộp mạng để cứu các nữ tu Mến Thánh Giá, nhưng theo lệnh Bề trên, Ngài cải trang thành dân thường để tiếp tục thực hiện sứ mạng ban các Bí tích cho đàn chiên.
Ngày 27.12.1858, Đức cha biết nhà dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn bị các quan theo dõi, nên ngài lại thuyên chuyển cha Phêrô Quý về họ đạo Đầu Nước ở Cù Lao Giêng, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang. Về Đầu Nước, cha Phêrô Quý bắt tay ngay vào công việc dạy giáo lý và đi thăm viếng các gia đình. Tuy thời gian ở đây ngắn ngủi, nhưng bằng sự vui vẻ hoà đồng, cha an ủi người đau khổ và giúp đỡ người nghèo khó. Tiếng lành đồn xa, cha thắp sáng lại ngọn lửa đức tin cho toàn vùng nên các giáo hữu rất trân trọng và kính mến cha. Nhưng mới chỉ được mươi ngày thì biến cố lớn xảy đến làm thay đổi mọi sự! Trong dân làng có một kẻ xấu bụng, ham tiền thưởng nên lén lút lên gặp quan Tổng đốc tỉnh An Giang báo cáo là tại nhà ông trùm họ (còn gọi là ông Câu) Emmanuel Lê Văn Phụng có đạo trưởng đang trú ẩn tại đó. Ngày 7.1.1859 nhằm Đại lễ Ba Vua, quan Tổng đốc An Giang kéo 100 quân tới bao vây nhà ông Trùm Emmanuel Lê Văn Phụng để lùng bắt các "đạo trưởng Tây". Thấy lính kéo về quá đông, giáo dân vội báo cho ông Phụng.
Được tin này cha Pernot nói với cha Quý: “Tôi và cha phải đi trốn ngay”
Cha Quý trả lời: “Tôi là người bản xứ, quan quân khó nhận ra. Cha phải đi trước đi. Tôi ở lại dọn đồ lễ để khỏi phiền lụy cho chủ nhà này. Nếu cần tôi sẽ đi sau.” Rồi cha ẩn núp dưới sàn nhà ông Phụng. Quan ra lệnh ông Phụng phải nộp đạo trưởng Tây dương vì quan đã được mật báo, biết chắc có đạo trưởng Tây dương đang ở đây.
Ông Lê Văn Phụng cương quyết trả lời: ‘Thưa quan, tôi thưa thật là không có đạo trưởng tây dương ở đây”
Quan quát lớn tiếng: “Không nói thật ta cho đánh nát xác bây giờ”
Trong giây phút ngàn cân treo sợi tóc, trước nguy cơ ông Trùm Phụng bị tra tấn dã mạn, Cha Quý đã chọn con đường của Mục tử nhân lành: không bỏ rơi đàn chiên. Ngài từ dưới sàn nhà bước ra và dõng đạc tuyên bố: Chính tôi đây là đạo trưởng. Không có đạo trưởng Tây dương nào ở đây. Ai muốn theo đạo, tôi sẵn sàng chỉ cho”.
Quan ngỡ ngàng nhìn cha Quý: “Anh nói láo! Anh còn trẻ như thế này mà là đạo trưởng sao được”.
Cha Quý cương quyết nhận: “Vâng, thưa quan lớn! Tôi là đạo trưởng thật mà!”
Thấy cha Quý nói với vẻ xác tín như thế. Quan vẫn chưa tin, quan quay lại hỏi một em bé 10 tuổi, cháu nội ông Phụng: “Ở đây ai là đạo trưởng?”
Cháu nhỏ chỉ cha Phêrô Quý: “Cha Quý đó!”
Lúc ấy quan mới tin rồi ra lệnh bắt trói cha Quý, ông Lê Văn Phụng và 32 tín hữu khác, xiềng xích lại rồi giải về Châu Đốc. Khi tới Châu Đốc thì lính áp giải cha Quý tới nộp cho quan Tổng đốc tỉnh. Quan Tổng đốc nhìn thấy cha Quý còn trẻ, đẹp trai thì có cảm tình ngay.
Biết Cha Quý còn rất trẻ và tuấn tú, quan Tổng đốc tìm mọi cách gợi ý cho ngài chối đạo hoặc khai giảm tội để được tha: “Cậu là đạo trưởng thật à? Cậu còn trẻ quá! Thôi, hãy bước qua Thánh Giá để ta tha cho mà về lấy vợ”.
Cha Phêrô Quý khiêm tốn đáp lại: “Tôi là đạo trưởng. Tôi khuyên dạy người ta theo đạo. Bây giờ quan lớn lại khuyên tôi bỏ đạo, làm sao có thể được? Tôi đã dâng mình làm tôi Chúa, tôi không lấy vợ.”
Quan lại nói: “Bây giờ cậu đừng nhận mình là đạo trưởng nữa, chỉ nhận là người giúp các đạo trưởng thôi thì tội của cậu sẽ nhẹ hơn. Ta có thể tha cho dễ hơn”.
Ngài mỉm cười nói: “Thưa quan lớn! Tôi không thể nói dối được. Tôi là đạo trưởng thì nói là đạo trưởng. Nếu vì thế mà phải chết thì tôi xin sẵn sàng chết”.
Ngày 30/07/1859, bản án trảm quyết cha Phêrô Đoàn Công Quý từ kinh đô về đến Châu Đốc, kèm với bản án ông Emmanuel Lê Văn Phụng. Hôm sau, ngày 31/07/1859, cha Đoàn Công Quý và ông Phụng là hai chiến sĩ kiên trung của Chúa hân hoan tiến ra pháp trường ở xóm Chà Và. Tới nơi, hai ngài quỳ gối cầu nguyện sốt sắng. Cha Quý giơ tay giải tội và ban phép lành cho ông câu Phụng. Ba hồi chiêng trống hiệu lệnh vang lên, mấy người đứng xa xa rưng rưng nước mắt. Tiếng trống vừa dứt, ngài đã anh dũng chịu trảm quyết 3 nhát. Cha Phêrô Đoàn Công Quý ngã xuống, hiến dâng cuộc đời cho Thiên Chúa khi vừa tròn 33 tuổi bằng đúng tuổi đời của Chúa Giêsu Kitô nơi trần thế. Quả là một người môn đệ bước theo sát gót chân Thầy Chí Thánh.
Văn sĩ Tertulianô từng để lại câu nói bất hủ: “Máu các thánh Tử Đạo là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu.” Nhìn lại trang sử đức tin hào hùng của các tín hữu dân Nam đất Việt nói chung và của cha Thánh Phêrô Đoàn Công Quý nói riêng, tất cả được ươm mầm, bén rễ và phát triển từ mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cả giọt máu của bậc Tiền nhân đã dám sống chứng nhân anh dũng. Ngài đã sống trọn vẹn Lời Chúa trong sách Maccabê quyển thứ hai: “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại”. Vì các ngài luôn xác tín vào Chúa, và nhìn vào gương các ngài để chúng ta vững tin rằng “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có lời chép: Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.” (Rm 8,35-37).
Ngày nay, những cuộc tử đạo đẫm máu gươm đao đã lùi vào quá khứ, nhưng người Kitô hữu lại bước vào một cuộc chiến mới, thường được Giáo hội gọi bằng những từ “Cuộc tử đạo trắng”. Cuộc chiến ấy có cả bên ngoài lẫn bên trong:
+ Cuộc chiến chống lại sự bách hại từ bên ngoài bởi sự dửng dưng bài tôn giáo, chủ nghĩa tục hóa và sự hằn thù.
+ Cuộc chiến chống lại sự bách hại từ bên trong đó là cuộc chiến giữ mình khỏi sự xao lãng Lời Chúa và giáo lý, khủng hoảng căn tính Kitô hữu mà Đức cố Giáo hoàng Phanxico từng nói có hai thứ làm cho Giáo Hội bị hoen ố: đó là tham vọng về tiền bạc và sự phân rẽ từ bên trong.
Năm nay, khi hướng tới dịp Kỷ niệm 200 năm Ngày sinh của Cha Thánh Phêrô Đoàn Công Quý (1826 - 2026), hai câu thơ suy niệm lại vang vọng hơn bao giờ hết:
“Quý lúc đổ cả máu đào,
Sống từng giọt một, đằng nào cũng công”.
Không phải tự dưng mà cha Thánh Quý được đặt làm Quan thầy cho cả Giáo phận Phú Cường, cũng không phải đơn thuần do ngài sanh ra trên mảnh đất Phú Cường, mà vì để nhờ nhân đức của vị Tiền Nhân, các thế hệ hậu bối tiếp nối có được gương sáng gần gũi từ cha ông để có thể sống đức tin vào Chúa như vậy. Nếu như xưa kia cha Thánh Quý đã dám đánh đổi đức tin bằng cả mạng sống lẫn máu đào như một bằng chứng thật quý báu, thì nay mỗi chúng ta được mời gọi sống trung thành với đức tin từ những điều nhỏ nhất trong cuộc sống như từ bỏ sự ích kỷ bản thân, can đảm sống công chính vì đức tin và hết lòng yêu thương phục vụ anh chị em. Mọi hy sinh dù là lớn lao bằng máu hay sự trung tín âm thầm mỗi ngày, đều thật đáng trân quý và chắc chắn được Thiên Chúa ghi nhận.
Xin bậc Tiền nhân là cha thánh Phêrô Đoàn Công Quý cho các tín hữu chúng con được trở nên “đoàn hậu bối” của ngài nhờ dám sống đức tin vững tin vào Chúa như gương ngài để lại. Amen.
Và nhân dịp mừng lễ kính Thánh linh mục Tử đạo Phêrô Đoàn Công Quý (31/7/1859), hôm nay xin phép tác giả bài thơ sau đây cho được đăng để thế hệ hậu bối dễ học hỏi nhơn đức của ngài, như xưa kia thế hệ đi trước thường truyền lại cho con cháu những lời hay ý đẹp từ những vần thi ca, những bài vè, câu ca dao tục ngữ tinh tế và dễ nằm lòng.
TRƯỜNG THI TỬ ĐẠO.
1. Con đường tu học của người môn đệ
Linh mục Phêrô Ðoàn Công Quý
Sanh Bính Tuất (1826) tỉnh lỵ Bình Dương,
Lớn lên được cha Tám thương,
Tới lui gặp gỡ tìm đường đi tu.
Cha Tám đang quản khu giáo xứ
Ngài thương con: “Con cứ ở đây,
Con về xin phép Mẹ Thầy
Thời gian học hỏi tràn đầy ơn riêng”.
Sau Cha Tám gởi liền Chủng viện
Thánh Giuse, dâng hiến đời tu.
Ơn gọi Thiên Chúa hộ phù,
Thầy được theo học viễn du nước ngoài.
Ở Pénang, Thừa sai của hội,
Học Triết, Thần, sau rồi Văn chương.
Bảy năm, thầy Quý hồi hương,
Ðức cha trao phó lên đường giảng rao.
2. Sứ mạng thừa sai của người môn đệ
Ðộng viên giáo hữu bao họ đạo,
Thầy tỏ ra chu đáo khả năng,
Thời gian phục vụ siêng chăm,
Thụ phong linh mục: “Thưa rằng Ðức cha!”
Tân Linh mục đó là cha Quý
Một thời gian giáo lý Lái Thiêu.
Bài sai Giám mục chuyển điều:
Cái Mơn phó xứ, sớm chiều chăm lo.
Sau tuyển chọn chuyên cho truyền giáo,
Khắp đó đây loan báo Tin Mừng.
Cửa Hàn, Pháp đã bất ưng
Xua quân bắn phá khắp vùng xung quanh.
Vua Tự Ðức đã đành oán ghét
Các linh mục bị ghép theo Tây,
Việt Nam giáo hữu bị lây:
Tội theo tà giáo phương Tây đưa vào!
Ban chiếu chỉ truyền giao cấm Đạo,
Cứ mỗi ngày tàn bạo tấn tra,
Truy lùng đạo trưởng, quý cha,
Nhưng không bắt được, chúng đà nổi xung.
Sau lính bắt truy lùng tu sĩ
Chúng dã man bắt bí nữ tu.
Cha Quý ngài muốn thế tù,
Giáo dân can gián, áo tu để nhà.
Giả dân thường để mà đi lại,
Ngài viếng thăm con cái giáo dân,
Trao ban Bí tích rất cần,
Ðức cha bổ nhiệm lãnh phần Cù Lao.
3. Người môn đệ bước theo Thầy Chí Thánh
Quan về làng vây bao trăm lính,
Ðến nhà ông Phụng, tính bắt Tây.
Ông liền nói: “Nhà tôi đây,
Không có đạo trưởng người Tây trong nhà!”
Quan quát lớn tấn tra đòn đánh,
Cha Quý ngài cứu tránh chủ nhà:
“Tôi đây đạo trưởng quê ta.
Không tin quan hỏi sao mà trẻ trung?”
Ðứa nhỏ chỉ trong vùng đạo trưởng,
Lính bắt ngay vẫn tưởng là sai.
Rồi xiềng xích trói tay ngài,
Giải về Châu Ðốc cung khai truy tìm.
Quan dụ dỗ nghe tin đức hạnh:
“Hãy nghe ta mà tránh đạo tà!
Thưởng tiền đạo trưởng được tha!”
Thanh liêm nổi tiếng gần xa người đồn.
Dạ thưa quan, sớm hôm giảng Đạo,
Ðiều tốt lành sáng tạo niềm tin,
Giêsu cứu độ kiếm tìm,
Tôi là đạo trưởng giữ gìn đoàn chiên.
Xin quan lớn cảm phiền hiểu thấu,
Chớ có lầm, nói xấu Đạo Trời.
Tôi xin khẳng định một lời:
Sẵn sàng Tử Đạo, Nước Trời Chúa ban!
Quan tức giận thảo bàn trảm quyết
Tại pháp trường ở miệt Năng Gù.
Nghe chiêng ba tiếng vang du,
Chém đầu Cha Quý, viễn du Nước Trời.
Thi hài an táng đời đau khổ,
Mộ chôn ngay tại chỗ nhà thờ.
Ngày cải táng mãi ước mơ:
Cù Lao chủng viện, kính thờ Long Xuyên.
4. Giáo hội tuyên phong người môn đệ theo sát gót Chúa Kitô
Năm Kỷ Mùi (1859) trung kiên Tử Đạo,
Là chứng nhân tố cáo gian tà.
Kỷ Dậu (1909) Toà Thánh Rôma
Suy tôn Chân Phước, đoàn dân đón mừng.
Năm Mậu Thìn ngày được hỉển vinh (19/6/1988)
Đức Gioan Phaolô đệ Nhị tuyên phong.
Cha Quý cùng các chứng nhân
Một trăm mười bảy anh hùng trung kiên.
Đại diện cho muôn vàn nhân chứng,
Trăm ngàn giáo hữu bị đoạ đày.
Quyết xưng danh Chúa tới cùng,
Mặc cho gươm giáo, xích xiềng bủa vây.
5. Tâm tình hậu bối tri ân bậc Tiền Nhân
Nay Mừng Đệ Nhị Bách Chu Niên (1826-2026),
Sanh nhật vị Thánh hiền Tử đạo.
Hậu duệ nơi chôn nhau cắt rốn
Tới nơi máu thấm, hợp chung Lễ mừng.
Hai trăm năm quả là trọng đại,
Toàn dân Chúa chung tiếng tạ ơn.
Mừng bậc Thánh hiền đất Việt
Gieo hạt giống trổ sinh Kitô hữu.
Đoàn con cái ngập tràn ơn Thánh
Công nơi Tổ nhơn đức anh hùng.
Quý lúc đổ cả máu đào,
Sống từng giọt một, đằng nào cũng công.
