
Chú Giải Tin Mừng Chúa Nhật Tuần IV Mùa Vọng Năm B (Lc 1:26-38) | Giáo Phận Phú Cường
Chú Giải Tin Mừng
Chúa Nhật Tuần IV Mùa Vọng Năm B
TIN MỪNG: Lc 1:26-38

Noel Quesson - Chú Giải
Một trong những cách chuẩn bị tốt nhất để mừng lễ NoeL, đó là suy niệm trình thuật về biến cố Truyền tin. Hiển nhiên là Thánh Luca đã ti.ếp xúc các môi trường Do Thái Pa-lét--tin, nơi mà truyền thống và dòng họ Đức Giêsu vẫn được bảo tồn. Cũng có thể ông đã gặp riêng Đức Maria, Đấng hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng" (Lc 2,19). Luca cho mình là sử gia, nên ông đã lo lắng tập tục là người đã được chứng kiến ngay từ đầu để tra cứu vấn đề đầu đuôi mọi sự trước khi viết ra" (Lc 1,2-3). Vả lại Luca là một nghệ sĩ tế nhị là người tường thuật tinh tế nhất trong bốn Thánh sử. Hơn chúng ta ngày nay, gần cận với những biến cố mầu nhiệm đã xảy ra, hẳn là Luca đã cảm thấy vấn đề khi sử dụng ngôn ngữ : phải dùng từ nào để diễn ta kinh nghiệm huyền bí đang sống động nơi một thiếu nữ đã thực sự thụ thai mang xác thịt Ngôi Lời Thiên Chúa, được Chúa Cha dự kiến từ thuở đời đời. Rất may Luca sử dụng truyền thống văn chương và thần học lâu đời của Kinh thánh. Vì vậy, ông viết "báo cáo" của mình rất trôi chảy theo khuôn khổ ngôn ngữ đã được Thánh Thần chuẩn bị rất tinh vi trong dân ít-ra-en. Bức vải vẽ cảnh Truyền tin được dệt bằng những “sợi chỉ" Kinh thánh. Khi nhận ra những sơi chỉ đó ta sẽ càng nhận thức được rằng, mạc khởi là một về huyền diệu của những kiểu nói, những hình ảnh, những dụ ngôn, nhằm diễn ta mầu nhiệm về Thiên Chúa khó hiểu thấu bằng ngôn ngữ loài người.
Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Galilê, gọi là Na-za-rét, đế gặp một thiếu nữ…
Luca chủ ý đặt một đối nghịch giữa việc loan báo sự sinh ra đời của Gioan Tẩy Giả với cảnh Truyền tin sinh hạ của Đức Giêsu.
Trường hợp trên : Đó là Giêrusalem... trong đền thờ…với một tư tế . . . ông này - không tin điều đó .
Trường hợp sau : Đó là Na-za-rét... trong một ngôi nhà riêng... với một thiếu nữ... cô này hoàn toàn ưng thuận. Đúng vậy, Na-za-rét là một làng nhỏ tầm thường. Theo các nhà khảo cổ, nó chỉ bao gồm khoảng 20 căn nhà, với 150 dân. cự.. Galilê cũng là một xứ bị người ta coi thường. Từ Na-za-rét, thì có cái gì hay được ?" (Ga l,46). Vẻ đơn sơ của căn nhà Maria ở, tương phản với vẻ trang trọng trong cuộc báo tin cho Giacaria, giữa khung cảnh hùng vĩ và thánh thiện của Đền Thờ, tại Giêrusalem, thủ đô (Lc l.,5-25).
Tôi dùng tưởng tượng chiêm ngắm Đức Maria trong căn nhà bé nhỏ nghèo nàn không ai biết đến, để suy niẹm sự khiêm hạ của Thiên Chúa nhập thể. Một ngày kia, thánh Phaolô sẽ nói : "Ngài đã làm cho mình hóa ra không, mặc lấy thân nô lệ" (Pl 2,7).
Một thiếu nữ đã kết hôn với một người tên là Giuse, con cháu nhà Đa-vít. Thiếu nữ ấy tên là Maria.
Trong một đoạn văn không có gì là song đối với bản văn trên, Mát-thêu quả quyết cả hai chân lý lịch sử một trật : Quan hệ dòng dõi nhà 'Đa-vít của bé thơ và tình trạng tinh khiết của mẹ em (Mt 1,18-25). Tên Yosephel có nghĩa là : "Xin Chúa thêm cho". Còn tên "Miryam" có nghĩa là : "Bà sang trọng". Tôi hình dung ra cảnh, những cô bạn, những thiếu nữ hàng xóm đang gọi tên "Miryam" tại giếng làng mà họ tới kín nước. Đó là một thiếu nữ hoàn toàn giản đơn, không có gì đặc sắc phân biệt cô với các bạn hữu khác. Tôi cũng hình dung ra cảnh hai người đã đính hôn đang âu yếm gọi tên nhau : "Miryam" . . . "Yosephel" ?
Sứ thần vào nhà cô và nói : "Kính chào bà, bà đầy ân sủng !".
Có lẽ chúng ta đã chờ đợi một lời chào như : "Kính mừng Maria !". Thế mà, thay vì Maria, sứ thần lại dùng "Đầy ân sủng" như một tên gọi. Cũng như trong nhiều trình thuật về ơn gọi, Thiên Chúa thường đổi tên cho con người. Maria trở thành "Đầy ân sủng" mà ta còn có thể là “Được Thiên Chúa sủng ái". Từ nay, trong tiếng Do Thái, gợi đến "kẻ yêu dấu”, "người được sủng ái" trong cuốn Diễm ca.
Kiểu nói Hy Lạp được sử dụng để chào nhau là "Kairé", thực sự mang ý nghĩa "Hãy vui lên" . Đó là một sự ghi nhớ lại Cựu ước (Xp 3,14 ; Dcr 2,14 - 9,9 ; Is 54,1). Các ngôn sứ yêu cầu "thiếu nữ Sion" hãy reo vui lên khi ngắm nhìn Đấng cứu độ mình đang tiến đến gần : "Reo vui lên ! Nữ tử Sion, hãy vui lên". Và chúng ta biết, niềm vui đã là đề tài luôn được bàn đến trong Tin Mừng Luca. Vì thế, đây là lời đầu tiên Thiên Chúa gửi cho trần gian : "Hãy vui lên !" .
Thiên Chúa ở cùng bà.
Đó là kiểu nói Thiên Chúa quen dùng khi Người muốn trấn an nhưng kẻ Người mới gọi đảm nhận những trách nhiệm nặng nề (St 15,1 ; Xh 4,12 ; Tl 6,12-17). "Đừng sợ ? Ta sẽ ở cùng ngươi ! " . Trong phục vụ, vị chủ tế cũng thường lặp lại với ta lời cầu chúc này : "Chúa ở cùng anh chị em ! " . Chúng ta có tin tưởng vào lời chào chúc đó không ? Em-ma-nu-en : Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Nghe những lời ấy, cô hoảng sợ, và tự hỏi không biết lời chào như vậy có nghĩa gì.
Ở đây nếu chỉ nhận thấy một phản ứng tâm lý, thì ta mới dừng lại ở khung dạng bên ngoài. Trong Cựu ước, bất cứ cuộc đưa tin nào cũng đều gây “sợ hãi" cả. Một lần nữa, đây là kiểu nói Kinh thánh, có nghĩa là : Hãy chú ý ở đây đang bàn đến mầu nhiệm ? Những lời này chứa một ý nghĩa kín ẩn, cần phải khám phá ? Thiên Chúa vẫn có đó ! Đây là điều quan trọng ! Thiên Chúa luôn là Đấng gây bối rối, xuất hiện bất ngờ và ở trong tình trạng kín mật... Thế nên, được mời gọi đến gần Chúa, con người dễ phát sinh cảm tình muốn lùi lại, run sợ trước vẻ thiêng thánh...
Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai... và đặt tên là Giêsu.
Luca sử dụng một kiểu nói có sẵn, rất nhiều lần được dùng trong Kinh thánh (St 16,11-17-19 ; Tl 13,5-7 ; Is 7,14). Này đây trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ đặt tên con trẻ là Em-ma-mu-en" . Lời sấm của I-sai-a từ lâu vẫn được hiểu theo nghĩa, việc hạ sinh Đấng cứu thế mà vẫn còn trinh khiết, như bản dịch Hy Lạp của 70 học giả xác nhận. Trong đó, ta thấy từ Hy Lạp "parthénos" (trinh nữ) chính xác hơn từ Do Thái "almah" (người nữ không lấy chồng).
Người sẽ nên cao cả, và thiên hạ sẽ gọi Người là Con Đấng tối cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Vua Đa-vít, tổ tiên của Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời,và vương quyền của Người sẽ vô cùng tận.
Maria thuộc lòng "lời tiên báo của Na than" (2 Sm 7,12-17) mà sứ thần gởi lại cho cô. Đối với chúng ta, đó là một thứ ngôn ngữ hơi bí hiểm. Những mọi người Do Thái đều hiểu lời đó theo ý nghĩa : Con trẻ này sẽ là Đấng cứu thế mà thiên hạ được loan báo và chờ mong.
Làm sao có chuyện ấy được; vì tôi không biết đến chuyện vợ chồng.
Ý đĩnh của Luca thật là rõ ràng : ông không muốn để người ta phải nghi ngờ gì về sự trinh khiết của Maria. Thời đó, theo tập tục Do Thái, lễ đính hôn cho phép các người nam kết ước được hưởng mọi quyền lợi của kẻ làm chồng, kể cả những tương quan giao hợp... Luca loại bỏ giả thiết này. Maria đã cân nhắc suy nghĩ và chọn sống đồng trinh. Vấn đề đố khiến ta cần đi sâu vào trong tư tưởng và tâm hồn Maria. Cô đã tận hiến đời mình cho Thiên Chúa, trong một tình yêu huyền bí, tuyệt đối, chuyên nhất... như biết bao người khác vẫn làm từ lâu rồi ? Điều đó không làm giảm giá trị bậc sống hôn nhân gì hết ! Nhưng nó làm nổi bật một lý tưởng khác, là một số người có thể chọn lựa một cách hợp thức, như' sau này Đức Giêsu có đề cập đến (Mt. 19,12). Đàng khác, qua cuộc khám tìm nếp sống của nhóm người ét-bê-niêng tại Qumraxl, giờ đây ta biết rằng, đó không phải là một lý tưởng xa lạ gì với ít-ra-en : vào lúc xảy ra các biến cố trên ,lý tưởng sống độc thân tự nguyện tận hiến đã bắt đầu phổ biến rộng rãi.
Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và uy quyền Đấng tối cao sẽ che chở cho bà.
Chúng ta đừng tưởng rằng, Maria đã thấu suốt mầu nhiệm Ngôi vị của người con mình qua những định nghĩa tín lý trừu tượng. Không ! Nhờ ý nghĩa của các hình ảnh và dụ ngôn Kinh thánh diễn tả, mà cô hiểu sự việc cách cơ bản thôi. Ở đây, Maria đứng trước một đề tài huyền diệu về "shekinah", hay "mây"; "bóng mát", dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Thần khí bay lượn trên nước lúc khởi đầu để ban sự sống (St 1,2). Và đây là một cuộc tạo thành mới nới Đức Mària "mây" phủ kín trướng tao phùng trong bóng mát (Xh 40,35). Và giờ đây Maria trở nên nơi cư ngụ của sự hiện diện Tháp Chính dưới bóng của : mây trời" mà Thiên Chúa đã phán dạy Môsê (Xh 16,10). Khi Salômon khánh thành Đền thờ, nătn 986, thì "mây xuống đầy nhà Chúa" (1 V 8,10). Đối với một nữ Do Thái, những lời của sứ thần đã gợi lên tất cả những điều đó.
Vì thế, hài nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng thánh, là con Thiên Chúa.
"Thần khí . . . " , " Quyền năng. . . " , "Đ ấng thánh. . . " , "Đấng tối cao...".' Luca muốn diễn tả cho ta hiểu, ngay từ giây phút đầu tiên, nhân tính của Đức Giêsu đã được thần khí
Thiên Chúa thấm nhập. Ngôn ngữ đượm màu sắc Kinh Thánh. Ai không chấp nhận bắt đầu từ giới mức đó – giới mức của Đức tin - thì mới chỉ dừng lại ở vẻ bề ngoài trình thuật. Lạy Chúa, xin giúp con ,biết dừng lại, sửng sốt mà thờ lạy, trước mầu nhiệm được diễn tả qua ngôn ngữ gợi ý trên đây. Trứng thụ thai trong dạ một người nữ, đó là một mầu nhiệm tuyệt vời,: vượt qua mọi định luật tự nhiên. Thánh Gioan sẽ nói : "Ngôi lời đã nhập thể" (Ga l,14). Ngày đó, ngang qua những gì đã biết nhờ vốn liếng Kinh thánh tại sao Maria lại không có thể hiểu, những gì sẽ xảy ra ? Dẫu sao, chắc chắn đó chưa phải là điều rõ ràng trong những định nghĩa tín lý.
Này tôi là nữ tỳ của Chúa.
Thiên Chúa không thể đưa dẫn Maria tới chức năng làm mẹ mà lại không thông tin và hỏi ý kiến trước. Thiên Chúa không đặt chúng ta đứng trước một sự kiện đã rồi. Ngài tôn trọng lãnh vực tự do và trách nhiệm của mỗi người. Qua ngôn ngữ Kinh thánh trên, Maria đã hiểu rõ điều cốt yếu để dấn thân với ý thức đầy đủ về sự việc.
Nhưng ta cũng đoán được đó là "trong đức tin". Lạy Chúa, xin cũng giúp chúng con biết tin tưởng.
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
" Này Trinh Nữ sẽ thụ thai và sẽ sinh một con trai "
BÀI TIN MỪNG : Lc 1, 26 - 38
I . Ý CHÍNH :
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện sứ thần của Thiên Chúa đến truyền tin cho Đức Maria để nói lên rằng :
Việc được thụ thai lạ lùng của Con Trẻ là dấu chỉ báo trước sứ mệnh cao cả của Con Trẻ .
Con Trẻ sẽ được sinh ra là người của Thiên Chúa, sẽ thi hành ý định của Thiên Chúa .
II . SUY NIỆM :
Để giúp suy niệm bài Tin Mừng hôm nay, trước tiên chúng ta cần đối chiếu những điểm dị đồng giữa câu truyện sứ thần truyền tin cho ông Dacaria với câu truyện truyền tin cho Đức Maria .
A / Những điểm giống nhau :
- Sứ thần Gabriel hiện ra với Dacaria ( Lc 1, 11 ) và cũng hiện ra với Đức Maria ( Lc 1, 26 - 28 ) .
- Sự lo lắng bối rối của Giacaria ( Lc 1, 12 ) cũng là sự lo lắng của Đức Maria ( Lc 1, 29 ) .
- Tin báo Gioan sinh ra ( Lc 1, 13 - 17 )
- Tin báo Đức Maria sẽ thụ thai và sinh con ( Lc 1, 30 - 33 )
- Giacaria thắc mắc và ghi ngờ ( Lc 1, 18 )
- Maria thắc mắc nhưng tin tưởng ( Lc 1, 34 )
- Dấu chứng : Dacaria bị câm và tên con trẻ là Gioan ( Lc 1, 19 - 20 )
- Dấu chứng cho Maria : Isave có thai lúc tuổi già ( Lc 1, 35 - 37 )
B / Những điểm khác nhau giữa hai con trẻ Gioan và Giêsu :
- Gioan chỉ là tiên tri cao cả, còn Chúa Giêsu là kế tử vua Đavít, là Vua Cứu Thế và là Con Thiên Chúa .
- Sứ mệnh của Gioan là sửa soạn và tạm thời, còn sứ mệnh của Chúa Giêsu là đời đời " Cai trị nhà Giacóp cho đến muôn đời " .
- Việc được thụ thai của Gioan tuy bất ngờ nhưng theo cách thế tự nhiên, Còn việc được thụ thai của Chúa Giêsu thì hoàn toàn lạ lùng do quyền phép Chúa Thánh Thần .
- Isave cao trọng như các phụ nữ khác trong Cựu ước ( Sara, Rêbecca, ... ) còn Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng Cứu Thế không ai có vinh dự đó .
Sau đây chúng ta suy niệm theo văn bản .
1 / " Thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến " .
Sáu tháng sau khi hiện ra truyền tin cho Dacaria về ngày Gioan Tẩy giả được thụ thai, chính sứ thần Gabriel lại được sai đến báo tin cho Đức Maria thụ thai Đấng Cứu Thế . Ở đây diễn tả : sứ vụ lần này của Gabriel quan trọng hơn lần trước, vì lần này báo tin chính thụ thai chính Đấng muôn dân trông đợi, còn lần trước chỉ báo ngày thụ thai của người dọn đường cho Ngài .
" Với một Trinh Nư " : Trinh Nữ có nghĩa là một thiếu nữ chưa mất sự trong sạch về thể xác bên ngoài cũng như tư tưởng bên trong và đồng thời cương quyết hiến dâng trọn vẹn mình cho Thiên Chúa .
" Đã đính hôn " : Có nghĩa Maria đã có ý trung nhân là Giuse rồi . Thời đại chúng ta, đính hôn chỉ là một lời hứa chưa có tính cách pháp luật . Còn ở Do thái thời đó, nếu kẻ đính hôn thất trung, có thể bị truy tố trước pháp luật về tội ngoại tình . Việc đính hôn với Giuse để bảo vệ sự trinh khiết của Maria .
" Thuộc chi họ Đavít " : Hiểu về thánh Giuse thuộc về dòng tộc Đavít ( Mt 1, 1. 16 - 20 ) .
" Maria " : Tên Maria thời đó không có gì mới lạ . Maria khiêm nhường không có tên cao quý và cầu kỳ . Ở đây diễn tả sự tầm thường nơi bản thân của Maria .
2 / " Kính chào Tring Nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ " :
Đây không phải là một lời chào tôn kính nhằm gây chú ý đến những công trạng của Maria, song là một lời kêu gọi vui tươi nhằm loan báo tấm lòng ưu ái và nhân hậu của Thiên Chúa và hé mở cho thấy Người sắp đến viếng thăm, cuộc thăm viếng đã được các Ngôn sứ loan tin từ bao thuở . ( Is 7, 14 - Mt 1, 23 ) .
3 / " Trinh Nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì " :
Trinh Nữ bối rối vì ý nghĩa của lời chào trên đây . Bối rối vì không bao giờ nghĩ đến ơn cao trọng như vậy cho mình . Chính lòng tự khiêm đã làm cho Người bối rối . Qua lời chào, Trinh Nữ tiên cảm một sứ mạng gì quan trọng .
4 / " Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa " :
Kiểu nói " Được ơn nghĩa với Chúa " thường được dùng trong Thánh Kinh ( St 6, 8 ; Xh 33, 12 ; Yud 7, 17 ? ) có nghĩa là được Thiên Chúa ưu đãi, xứng đáng được Thiên Chúa ban những ơn đặc biệt .
5 / " Này Trinh Nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một Con Trai và đặt tên là Giêsu, và triều đại Người sẽ vô tận " :
Lời loan báo này của sứ thần có ý nghĩa riêng :
- Trinh Nữ là người có sứ mạng thực hiện lời Tiên tri Isaia ( 7, 14 ) rằng : " Kìa người Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một Con Trai và Nàng sẽ đặt tên cho Cậu là Emmanuel " .
- Các tước hiệu mà sứ thần kể ra đây để chứng tỏ rằng Chúa Giêsu sẽ sinh ra thật là Đấng mà muôn dân trông đợi và các Tiên tri loan báo ( x. Xh 4, 22 - 23 ; 2V 7, 14 . 28, 7 - 14 ; Tv 2, 7 ) .
6 / " Việc đó xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến người nam " :
Nghe lời sứ thần chào, Trinh Nữ có một điểm thắc mắc rằng : Tôi hiện nay còn trinh, chưa hề tiếp xúc với đàn ông theo kiểu vợ chồng, và tôi đang ở trong tình trạng quyết định sống đồng trinh luôn mãi, thì tôi phải làm thế nào để thực hiện ý định của Chúa được ? Lời thắc mắc này mở dịp cho sứ thần loan báo thêm .
7 / " Chúa Thánh Thần sẽ đến với Trinh Nữ, và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Trinh Nữ " :
Việc sinh con này hoàn toàn do Thiên Chúa, xác thịt không tham dự . " Thánh Thần sẽ đến ... " . Kiểu nói này trong Thánh Kinh chỉ sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa ( Yud 3, 10 . 11, 29 ; St 1, 2 . 2, 7 ) .
Kiểu nói " Uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Trinh Nữ " được mượn trong Cựu ước, Chúa hiện ra trong đám mây bao phủ Hòm bia ( Xh 40, 33 ; Ds 9, 22 ) để diễn tả việc Chúa can thiệp cách đặc biệt .
8 / " Đấng Trinh Nữ sẽ sinh ra là Đấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa " :
Hậu quả việc can thiệp của Thiên Chúa là người con Trinh Nữ sinh ra sẽ là Đấng Thánh, chính Người là sự thánh thiện .
Kiểu nói " Con Thiên Chúa " diễn tả người con Trinh Nữ sinh ra ở đây là con do Thiên Chúa tác thành cách đặc biệt chứ không phải do người đàn ông nào tham dự vào . Hay nói kiểu khác, tuy sinh ra bởi Maria là một người phàm, nghĩa là Giêsu là dòng giống Abraham, nhưng vì Ngài sinh ra bởi quyền năng Thần Trí nên Ngài mang trong Ngài một đời sống mới : đời sống của Con Một Thiên Chúa .
9 / " Và này, Isave chị họ Trinh Nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già ... " :
Khác với Dacaria, vì ông hoài nghi nên xin một dấu lạ làm tin, Đây Trinh Nữ không đòi dấu gì, nhưng sứ thần cũng cho một dấu lạ để bảo đảm sứ mạng của mình, dấu lạ này là việc bà Isave đang mang thai được 6 tháng trong lúc tuổi già son sẻ .
10 / " Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền " :
Sau khi hiểu về chương trình của Thiên Chúa do sứ thần loan báo và giải thích . Trinh Nữ với tâm tình đầy tin tưởng và phó thác liền thưa " Xin vâng " . Câu nói tuy vắn tắt nhưng biểu lộ một tâm hồn tin tưởng, vâng phục và thiết tha yêu mến Thiên Chúa .
Kiểu nói " Tôi là tôi tớ Chúa " ( x. 1Sm 25, 41 ) ở đây nói đến đức tin và tình yêu mến hơn là lòng khiêm nhường, vì theo Thánh Kinh thì được làm tôi tớ Thiên Chúa là một vinh dự lớn lao vô cùng .
11/ " Và thiên thần cáo biệt Trinh Nữ " :
Sứ mạng đã hoàn tất, sứ thần cáo biệt Trinh Nữ .
III . ÁP DỤNG :
A / Áp dụng theo Tin Mừng :
Qua bài Tin Mừng về truyền tin hôm nay, được đặt vào Chúa nhật thứ 4 Mùa Vọng, ngay sát với lễ Giáng sinh của Chúa Giêsu, Giáo Hội muốn dọn lòng chúng ta hướng về Hài Nhi sắp sinh được kỷ niệm trong đêm lễ Giáng sinh là đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa mà nhân loại đang mong đợi . Chúng ta hãy sốt sáng và chuẩn bị dọn lòng xứng đáng để đón nhận ơn Chúa cứu chuộc chúng ta .
B / Áp dụng thực hành :
1/ Nhìn vào Trinh Nữ Maria :
a / Xem việc Người làm :
* Trinh Nữ bối rối : sự bối rối trước quyền năng của Thiên Chúa, sự bối rối này diễn tả một tâm hồn đầy tin tưởng và yêu mến . Khi được diễm phúc đón nhận ơn Chúa như ơn này ơn khác hoặc được ơn gọi khấn dòng, lãnh chức Thánh, chúng ta cũng phải khiêm nhường để tỏ lòng kính sợ và tin tưởng vào Thiên Chúa . Đồng thời phải thao thức đào sâu tìm hiểu ơn đó để sống xứng đáng hơn .
* Maria không đòi dấu lạ như Giacaria vì Bà tin lời sứ thần, nhưng vì lòng thương xót, Thiên Chúa vẫn cho Maria một dấu chỉ ( Isave son sẻ mà lại thụ thai ) để giúp lòng tin của Bà vững vàng hơn .
Ta cũng vậy, đôi khi Thiên Chúa gửi cho ta một dấu chỉ rất rõ về sự hiện diện và ý muốn của Người ( ơn an ủi thiêng liêng, hoàn cảnh quan phòng của đời sống ... ) . Nhưng những dấu chỉ đó chẳng phải là tối cần thiết cho đức tin, ta không nên chờ đợi chúng trước khi tín thác vào Chúa hoàn toàn, nếu Người cho dấu chỉ là vì tình thương, ta hãy cảm tạ và khiêm tốn như Maria .
* Sự giải thích của sứ thần không làm cho Maria hiểu hết sự việc của Thiên Chúa, nhưng Bà vẫn tin . Ta cũng vậy, những giáo huấn của Giáo Hội qua bài giảng Chúa nhật và các lớp giáo lý, không miễn cho ta hành vi đức tin, song những giáo huấn ấy sẽ nâng đỡ và nuôi dưỡng đức tin của ta .
b / Nghe lời Maria nói :
* " Việc đó xảy đến thế nào được " : Maria tỏ ra khiêm tốn, nhìn nhận sự bất lực mình trước sứ mệnh của Thiên Chúa trao . Chúng ta cũng phải tỏ ra khiêm tốn, nhìn nhận sự yếu hèn của mình để xin ơn phù giúp của Thiên Chúa mỗi khi nhận lãnh một công việc, một bổn phận, một sứ mệnh ...
* " Tôi xin vâng " : tin tưởng, yêu mến và vâng phục trước sứ mệnh Chúa trao . Chúng ta cũng phải tin tưởng, yêu mến và vâng phục khi được trao phó trách nhiệm nào đó .
2 / Nhìn vào sứ thần :
Sứ thần chào kính Trinh Nữ : " Kính chào Trinh Nữ đầy ơn phúc " . Mỗi lần chúng ta lần chuỗi Mân Côi, chúng ta cũng lập đi lập lại lời chào kính này để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ và tin tưởng vào uy quyền của Thiên Chúa .
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN
Địa chỉ: Số 06, Tôn Đức Thắng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
Copyright © CHỦNG SINH KHÓA 10