
Đức Giám mục Nam Phi nói rằng vụ sập mỏ chết người phơi bày những tội lỗi kinh tế sâu xa
ĐỨC GIÁM MỤC NAM PHI NÓI RẰNG VỤ SẬP MỎ CHẾT NGƯỜI
PHƠI BÀY NHỮNG TỘI LỖI KINH TẾ SÂU XA
Hàng chục ngàn người được gọi là những thợ mỏ “thủ công” đang làm việc bất hợp pháp tại các mỏ vàng và bạch kim đã ngừng hoạt động trước đây do các công ty khai thác mỏ vận hành, hoặc tự đào mỏ để tìm quặng, thường làm việc mà không có trang thiết bị bảo hộ thích hợp.
Nhiều thợ mỏ làm việc tại những địa điểm nguy hiểm này là người nhập cư không có giấy tờ.
Đôi khi, các thợ mỏ phải ở dưới lòng đất nhiều tuần lễ.
Mười bốn người trong số những công nhân này đã thiệt mạng ngày 10 tháng 8, sau khi một mỏ đã ngừng hoạt động bị sập tại khu định cư tự phát Nkaneng, gần Rustenburg và Marikana, Nam Phi.
Đức cha Thulani V. Mbuyisa, Giám mục phụ trách liên lạc với Ủy ban Công lý và Hòa bình của Hội đồng Giám mục Công giáo Nam Phi (SACBC), cho rằng việc quy gán cho các nạn nhân là “thợ mỏ bất hợp pháp” là một thất bại về mặt đạo đức, bởi điều đó cho phép những thủ phạm thực sự thoát khỏi sự phán xét.
Đức cha Mbuyisa nói với Crux Now, “Bất kể quốc tịch, tình trạng nhập cư hay việc họ có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không, họ đều là những con người với sự sống có giá trị.”
Ngài nói, “Chúng ta nhất định phải thực thi pháp luật, nhưng một xã hội không thể đơn thuần bằng lòng với việc dán nhãn cho người đã chết là ‘thợ mỏ bất hợp pháp’ rồi tiếp tục như thế”.
Vị Giám mục nhấn mạnh: "Chúng ta phải đặt câu hỏi xem những hoàn cảnh nào đã liên tục đẩy những con người tuyệt vọng vào các nơi mà cái chết là điều hoàn toàn có thể dự báo trước."
Với giá trị ước tính từ 2,5 ngàn tỷ đến 3,5 ngàn tỷ USD, nguồn tài nguyên khoáng sản đặc biệt dồi dào của Nam Phi từ lâu đã là xương sống của nền kinh tế nước này; tuy nhiên, những cộng đồng đang sinh sống trên các mỏ khoáng sản ấy vẫn mắc kẹt trong tình trạng nghèo đói cùng cực và thất nghiệp trầm trọng.
Đức Giám mục Mbuyisa tin rằng vụ sập mỏ tại Nkaneng là triệu chứng của một khế ước xã hội đã rạn nứt sâu sắc.
Sau đây là những trích đoạn cuộc trao đổi của Crux Now với Đức cha Thulani V. Mbuyisa thuộc Giáo phận Kokstad, Nam Phi, Giám mục phụ trách liên lạc với Ủy ban Công lý và Hòa bình của SACBC, được biên tập về độ dài và tính rõ ràng…
Crux Now: Thưa Đức Cha, 14 người đã thiệt mạng gần đây tại một khu mỏ đã ngừng hoạt động ở Nkaneng, Rustenburg. Khi vừa nghe tin về vụ sập mỏ này, điều gì hiện lên trong tâm trí Đức cha?
Đức cha Thulani V. Mbuyisa: Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là những con người đã thiệt mạng và những gia đình sẽ phải nhận tin khủng khiếp rằng người thân yêu của họ sẽ không bao giờ về nhà nữa.
Mười bốn người đã thiệt mạng và tám người sống sót sau thảm kịch này. Sự sống con người là thánh thiêng. Một người chết vì khai thác mỏ bất hợp pháp cũng đã là quá nhiều. Bất kể quốc tịch, tình trạng nhập cư hay việc họ có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không, họ đều là những con người với sự sống có giá trị.
Tôi cũng tự hỏi: còn bao nhiêu người nữa phải chết tại những khu vực khai thác mỏ bị bỏ hoang hoặc không còn hoạt động trước khi chúng ta nhận ra rằng có điều sai lầm nào đó sâu xa hơn đang tồn tại?
Chắc chắn, chúng ta phải thực thi pháp luật, nhưng một xã hội không thể đơn thuần bằng lòng với việc dán nhãn cho người đã chết là “thợ mỏ bất hợp pháp” rồi tiếp tục như thế. Chúng ta phải đặt câu hỏi xem những hoàn cảnh nào đã liên tục đẩy những con người tuyệt vọng vào các nơi mà cái chết hoàn toàn có thể được dự liệu trước.
Đức Cha kêu gọi Nam Phi phải đối mặt với “những câu hỏi sâu xa hơn về nền kinh tế khai thác mỏ của đất nước”. Những câu hỏi sâu xa hơn đó là gì?
Câu hỏi sâu xa hơn là thế này: Ai là người cuối cùng được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên khoáng sản đặc biệt dồi dào của Nam Phi, và ai phải gánh chịu những tổn thất về con người và môi trường?
Trong hơn một thế kỷ, ngành khai khoáng đã tạo ra nguồn tài sản khổng lồ, nhưng nhiều cộng đồng khai khoáng vẫn phải sống trong tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, môi trường bị hủy hoại và cơ sở hạ tầng khai thác mỏ bị bỏ hoang đầy nguy hiểm.
Vì thế, Nkaneng buộc chúng ta phải nhìn xa hơn câu hỏi trước mắt về việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Chúng ta phải hỏi tại sao những khu mỏ đã ngừng hoạt động vẫn còn có thể tiếp cận.
Ai chịu trách nhiệm khôi phục môi trường và bảo đảm an ninh?
Tại sao những người sống bên cạnh nguồn tài nguyên khoáng sản khổng lồ vẫn phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực?
Ai tài trợ và thu lợi từ việc khai thác khoáng sản bất hợp pháp, và liệu nền kinh tế khai khoáng của chúng ta thực sự phục vụ ích chung, hay chỉ phục vụ lợi ích của các cổ đông và các mạng lưới tội phạm quốc tế?
Chính Bộ Tài nguyên Khoáng sản và Dầu mỏ (DMPR) cũng đã cho biết thảm kịch này xảy ra trong phạm vi của một khu vực có giấy phép khai thác mỏ còn hiệu lực, mặc dù giấy phép đó liên quan đến hoạt động khai thác lộ thiên trên bề mặt và không bao gồm một hầm mỏ dưới lòng đất.
Điều đó khiến việc điều tra toàn diện về trách nhiệm, việc tuân thủ quy định, an ninh và công tác khôi phục môi trường trở nên đặc biệt cấp thiết.
Tại sao những người dễ bị tổn thương vẫn bị đẩy vào những không gian nguy hiểm, bị bỏ hoang?
Chúng ta phải bắt đầu từ tình trạng thất nghiệp cao trong cả nước, điều mà tự nó tạo ra một tâm lý tuyệt vọng sâu sắc.
Đừng ai lãng mạn hóa việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Đây là hoạt động nguy hiểm, trái pháp luật, và ở nhiều nơi có liên hệ với các mạng lưới tội phạm có tổ chức. Nhưng chúng ta cũng phải hỏi tại sao một người lại sẵn sàng đi vào hầm mỏ không an toàn, hoặc đào xuyên qua những công trình mỏ nguy hiểm, dù biết rằng mình có thể không trở về.
Đối với một số người, quyết định có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không được đưa ra trong những hoàn cảnh kiệt quệ về kinh tế.
Khi những cơ hội kinh tế hợp pháp biến mất, những người tuyệt vọng trở thành mục tiêu dễ dàng cho các tổ chức tội phạm tuyển dụng lao động, trong khi những người ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị mới thực sự là những người thu lợi.
Đó là lý do tại sao việc bắt giữ những người làm việc dưới lòng đất, trong khi không đụng đến những người tài trợ, tổ chức, chế biến, vận chuyển và mua bán các khoáng sản được khai thác bất hợp pháp, sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề.
Tài sản của Nam Phi được xây dựng trên lưng các thợ mỏ, nhưng trong lịch sử, ngành khai khoáng đã coi công nhân da đen như những người có thể bị loại bỏ. Đã có gì thay đổi hay chưa?
Ngành công nghiệp khai thác mỏ thời kỳ apartheid đã xây dựng một hệ thống lao động di cư, trong đó những người thợ mỏ da đen phải chịu một gánh nặng rất lớn.
Hệ thống lao động di cư về bản chất là một hệ thống sử dụng lao động có thể loại bỏ.
Nhiều thế hệ đàn ông bị chia cắt khỏi gia đình do chính sách lao động di cư, bị dồn vào trong các khu nhà tập thể, phải phơi mình trước những điều kiện làm việc nguy hiểm và bệnh tật, đồng thời nhận mức đền bù không tương xứng với cái giá tổn thất về con người để tạo ra nguồn của cải khoáng sản cho đất nước.
Đúng là về mặt pháp lý, nhiều điều đã thay đổi kể từ thời apartheid.
Người lao động ngày nay có các quyền thuộc hiến định và quyền lao động mà các thế hệ trước họ bị khước từ. Tuy nhiên, câu hỏi sâu xa hơn là liệu quan niệm cũ về lao động có thể loại bỏ đã hoàn toàn biến mất hay chưa.
Khi những công nhân mỏ trước đây phải đấu tranh đòi bồi thường vì các bệnh nghề nghiệp, khi các cộng đồng khai thác mỏ vẫn nghèo đói sau nhiều thập niên khai thác, hoặc khi những người thất nghiệp tuyệt vọng trở thành lực lượng lao động có thể bị loại bỏ nằm ở tầng đáy của các mạng lưới khai thác mỏ bất hợp pháp, chúng ta cần thận trọng trước khi tuyên bố rằng não trạng căn bản ấy đã biến mất.
Các hình thức có thể đã thay đổi.
Nhưng câu hỏi về việc sự sống của người nào thực sự có giá trị trong nền kinh tế khai khoáng vẫn còn đó.
Tại sao những cộng đồng như Nkaneng vẫn nghèo đói dù nằm ngay bên cạnh nguồn tài nguyên bạch kim khổng lồ? Có phải khế ước xã hội đã bị phá vỡ?
Tại mọi thị trấn mỏ ở Nam Phi, người ta đều bắt gặp một nghịch lý về luân lý: sự tồn tại của những tài sản kếch xù ngay giữa lòng sự nghèo đói tột cùng.
Nghịch lý này phải khiến lương tâm chúng ta day dứt. Bạn có thể đứng trong một cộng đồng được bao bọc bởi những trữ lượng khoáng sản dồi dào nhất trên trái đất, nhưng vẫn chứng kiến những gia đình không có việc làm xứng đáng, những người trẻ không có triển vọng và những cộng đồng phải vật lộn để có được các dịch vụ cơ bản.
Có điều gì đó không ổn về mặt luân lý khi nguồn tài sản khổng lồ có thể được khai thác từ lòng đất ngay bên dưới một cộng đồng, trong khi nghèo đói vẫn bám rễ trên mặt đất.
Nếu các cộng đồng chỉ có kinh nghiệm khai thác mỏ qua những trận nổ phá đá, ô nhiễm, thất nghiệp và hạ tầng bị bỏ hoang, trong khi các lợi ích kinh tế dường như lại chảy đi nơi khác, thì rõ ràng đã có sự gãy đổ trong khế ước xã hội giữa những người ở nơi trực tiếp khai thác khoáng sản và những người ở nơi tích lũy của cải.
Nói chung, trong ngành khai khoáng ở Châu Phi, dường như chúng ta đang có một khế ước xã hội bị chi phối bởi lòng tham: lòng tham của các tập đoàn, lòng tham của các tổ chức tội phạm và lòng tham của giới tinh hoa chính trị tha hóa.
Thực tế tình trạng của những khu mỏ bị bỏ hoang đối với các cộng đồng xung quanh như thế nào?
Một khu mỏ bỏ hoang không tự nhiên biến mất khi hoạt động khai thác thương mại kết thúc. Nó vẫn tồn tại hiện hữu về mặt vật chất.
Có thể vẫn còn các hầm mỏ, các đường hầm không an toàn, nguồn nước bị ô nhiễm, các bãi thải mỏ, đất bị ô nhiễm và những mối nguy hiểm khác đối với môi trường và an toàn. Khi công tác khôi phục môi trường và an ninh không được bảo đảm, những địa điểm này có thể trở thành nơi thu hút hoạt động khai khoáng phi chính thức và bất hợp pháp.
Do đó, chúng có thể trở thành những không gian nguy hiểm nằm ngay bên cạnh các cộng đồng mà ở đó người dân đã phải vật lộn với nạn thất nghiệp.
Đó là lý do tại sao việc đóng cửa mỏ không thể đơn thuần là lấy đi những khoáng sản có giá trị kinh tế rồi bỏ đi. Đóng cửa và phục hồi môi trường là một phần trong trách nhiệm luân lý và pháp lý gắn liền với hoạt động khai thác mỏ.
Sinh thái học toàn diện và thảm kịch tại Nkaneng liên hệ với nhau như thế nào?
Sinh thái học toàn diện dạy chúng ta rằng tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo không thể tách rời nhau. Khi hoạt động khai thác mỏ tàn phá đất đai, làm ô nhiễm nguồn nước hoặc để lại những cơ sở hạ tầng nguy hiểm, hậu quả không chỉ đơn thuần là vấn đề môi trường.
Con người sống trong chính môi trường ấy.
Người nghèo thường là những người ít có khả năng nhất để thoát khỏi những hậu quả đó.
Nkaneng minh họa mối liên hệ này cách hết sức đau đớn.
Một bên là những không gian khai khoáng đã bị hủy hoại hoặc không còn hoạt động; bên kia là những con người dễ bị tổn thương đang bước vào các không gian ấy để tìm kiếm một thứ gì đó có thể giúp họ sinh tồn.
Sự bỏ mặc môi trường và sự bỏ mặc con người bắt đầu phản chiếu lẫn nhau.
Chúng ta không được quên rằng một nền kinh tế khai khoáng coi đất đai là thứ có thể vứt bỏ thì cuối cùng cũng sẽ dễ dàng coi con người như những thứ có thể dễ dàng loại bỏ.
Ai phải chịu trách nhiệm về mặt luân lý và pháp lý đối với thảm kịch Nkaneng?
Chúng ta nên thận trọng không đưa ra kết luận về trách nhiệm pháp lý trước khi quá trình điều tra hoàn tất.
Bộ Tài nguyên Khoáng sản và Dầu mỏ (DMPR) đã xác nhận sự việc xảy ra trong phạm vi khu vực có giấy phép khai thác còn hiệu lực, đồng thời làm rõ rằng giấy phép này áp dụng cho hoạt động khai thác lộ thiên trên bề mặt chứ không bao gồm hầm mỏ dưới lòng đất.
Bộ đang rà soát việc tuân thủ các quy định pháp luật và giấy phép liên quan, trong khi các cuộc điều tra của cảnh sát vẫn đang được tiến hành. Do đó, trách nhiệm pháp lý phải được xác định dựa trên chứng cứ.
Tuy nhiên, chúng ta không ngại đưa ra nhận định về trách nhiệm luân lý.
Có nhiều tầng trách nhiệm luân lý khác nhau.
Chúng ta phải xem xét trách nhiệm luân lý của những người đã sở hữu, vận hành, đóng cửa mỏ hoặc có nghĩa vụ khôi phục môi trường và bảo đảm an ninh cho khu vực này; trách nhiệm của các cơ quan quản lý; cũng như các mạng lưới tội phạm tổ chức và trục lợi từ hoạt động khai thác bất hợp pháp.
Chúng ta cũng phải tự vấn chính mình với tư cách là một xã hội, khi tình trạng thất nghiệp và bất bình đẳng trở nên nghiêm trọng đến mức việc bước vào một khu mỏ có thể gây chết người lại trở thành sinh kế của một ai đó.
Khai thác mỏ bất hợp pháp có phải chủ yếu là vấn đề thực thi pháp luật hay không?
Thực thi pháp luật là điều cần thiết.
Không thể đơn thuần dung dưỡng cho việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Các băng nhóm tội phạm phải bị điều tra, và hoạt động buôn bán khoáng sản khai thác trái phép phải bị ngăn chặn.
Nhưng nếu toàn bộ phản ứng chính sách của chúng ta chỉ bao gồm các chiến dịch của cảnh sát và việc phong tỏa các cửa mỏ, chúng ta chỉ là giải quyết các triệu chứng trong khi cho phép những điều kiện tạo ra chúng tiếp tục tồn tại.
Nam Phi cần một phản ứng rộng lớn hơn nhiều: kiểm toán và khôi phục môi trường đúng quy chuẩn các mỏ bị bỏ hoang; quy trách nhiệm đối với các nghĩa vụ liên quan đến việc đóng cửa mỏ; tăng cường quản lý toàn bộ chuỗi giá trị của hoạt động khai thác mỏ bất hợp pháp; tạo ra các cơ hội kinh tế trong các cộng đồng khai khoáng; và nghiêm túc xem xét việc quản lý thích đáng đối với hoạt động khai thác mỏ thủ công và quy mô nhỏ.
Chúng ta không chỉ đặt câu hỏi: “Làm thế nào để ngăn người dân đi xuống lòng đất?” Chúng ta còn phải hỏi: “Tại sao ngay từ đầu họ lại phải đi xuống lòng đất, và ai đang kiếm tiền từ việc đưa họ xuống đó?”
Ủy ban Công lý và Hòa bình đóng vai trò gì trong cuộc tranh luận về ngành khai thác mỏ? Phải chăng Ủy ban chỉ đơn thuần đưa ra những tuyên bố?
Với tư cách là Ủy ban Công lý và Hòa bình, trong nhiều thập niên qua, chúng tôi đã đưa ra các tuyên bố về những bất công trong ngành khai thác mỏ. Nhưng các tuyên bố chỉ là một phần trong công việc của chúng tôi.
Ủy ban Công lý và Hòa bình làm việc trực tiếp với các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác mỏ và với những công nhân từng là thợ mỏ đang tìm kiếm công lý. Chúng tôi thực hiện điều mà chúng tôi gọi là “đồng hành mục vụ”.
Đặc biệt, chúng tôi đã đồng hành với các thợ mỏ bị bệnh trong cuộc đấu tranh đòi bồi thường và khắc phục hậu quả, hỗ trợ tổ chức cộng đồng và vận động, đồng thời làm việc với các cộng đồng bị ảnh hưởng để chất vấn những cơ cấu rộng lớn hơn cho phép của cải từ khai khoáng tồn tại song song với nghèo đói, bệnh tật nghề nghiệp và sự tàn phá môi trường.
Cách tiếp cận của chúng tôi mang bản chất mục vụ, nghĩa là cùng bước đi với các cộng đồng bị ảnh hưởng, thay vì chỉ nói về họ.
Theo một cách nào đó, những gì chúng tôi đang thực hiện chính là tính hiệp hành trong hành động: lắng nghe và đồng hành cùng các cộng đồng đang phải chịu những tổn hại về nhân quyền do hậu quả của hoạt động khai thác mỏ.
Điều này có nghĩa là lắng nghe những người từng là thợ mỏ và gia đình họ, hỗ trợ những nỗ lực tiếp cận công lý của họ, đối thoại với các công ty khai thác mỏ và chính quyền, sử dụng các biện pháp pháp lý và vận động khi cần thiết, đồng thời giúp các cộng đồng tổ chức để bảo vệ các quyền của mình.
Đối với chúng tôi, đây là một phần căn bản trong sứ mạng của Giáo hội. Đây là một phần không thể tách rời của việc loan báo Tin mừng.
Công lý và Hòa bình không thể từ xa đứng nhìn những con người đang đau khổ rồi chỉ đưa ra những nhận định về đạo đức.
Giáo hội phải hiện diện tại nơi con người đang mang trên mình những vết thương do nền kinh tế khai thác mỏ gây ra.
Do đó, sự quan tâm của chúng tôi tại Nkaneng thuộc về một cam kết rộng lớn hơn nhiều: một nền kinh tế khoáng sản mà trong đó người lao động và các cộng đồng được đối xử như những con người có phẩm giá, chứ không đơn thuần là những công cụ để khai thác.
Tác giả: Ngala Killian Chimtom
Nguồn: cruxnow
