
Ngày thứ hai kỳ thường huấn linh mục Giáo phận Phú Cường: Giáo luật về việc quản trị tài sản
NGÀY THỨ HAI KỲ THƯỜNG HUẤN LINH MỤC GIÁO PHẬN PHÚ CƯỜNG:
GIÁO LUẬT VỀ VIỆC QUẢN TRỊ TÀI SẢN
Trung tâm Mục vụ Giáo phận Phú Cường, 05/08/2026 – Ngày thứ hai của tuần tĩnh tâm và thường huấn quý III được dành trọn cho các đề tài Giáo luật, do Linh mục Gioan Bùi Thái Sơn, Đại diện tư pháp Tổng giáo phận Sài Gòn, trình bày. Trong ngày, quý cha lần lượt học hỏi ba đề tài: "Đức Giám mục giáo phận và việc quản trị tài sản giáo phận", "Giáo sĩ và việc quản trị tài sản, tài chính" và "Linh mục chánh xứ và việc quản trị tài sản".
Ở đề tài thứ nhất, cha giảng huấn trình bày hướng đi của Công đồng Vaticanô II là dành tối đa cho Giáo hội địa phương quyền tự tổ chức theo nhu cầu của mình. Vì thế, Bộ Giáo luật 1983 không còn liệt kê chi tiết như Bộ Giáo luật 1917, nhưng vẫn minh nhiên nhìn nhận quyền của vị Giám mục giáo phận trên tài sản của Giáo hội địa phương. Ngài lãnh đạo giáo phận với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có mọi quyền thông thường, riêng biệt và trực tiếp để thi hành nhiệm vụ mục vụ, và là người đại diện giáo phận trong mọi công việc pháp lý.

Tuy là người quản trị chính thức mọi tài sản của giáo phận, trong thực tiễn, Đức Giám mục thường uỷ thác công việc này cho vị quản lý giáo phận, và tại giáo xứ là cho linh mục chánh xứ, đúng như tinh thần sách Công vụ Tông đồ: "Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải" (Cv 6,2). Giáo luật hiện hành nhấn mạnh trách nhiệm giám sát của ngài trên việc quản trị tài sản thuộc các pháp nhân công dưới quyền, đồng thời dành cho ngài toàn quyền can thiệp và quyết định trong những trường hợp vượt quá giới hạn và cách thức của việc quản trị thông thường.
Cha giảng huấn cũng dừng lại khá lâu ở Hội đồng Kinh tế giáo phận theo các Điều 492 đến 494, gồm ít nhất ba Kitô hữu thông thạo về kinh tế và luật dân sự, nổi tiếng thanh liêm, do Đức Giám mục bổ nhiệm, với các nhiệm vụ tư vấn, chuẩn bị ngân sách thu chi, góp ý khi bổ nhiệm vị quản lý và nhận định về bản tổng kết thu chi hằng năm. Từ kinh nghiệm của các Giáo hội tại nước ngoài và của Giáo phận Sài Gòn trước đây, ngài nêu lên những nguyên nhân khiến hội đồng này chưa hoạt động hiệu quả tại nhiều nơi: thành phần linh mục nhiều hơn giáo dân trong khi lại thiếu chuyên môn, các thành viên giáo dân được chọn vì lòng đạo đức hơn là vì khả năng, và tâm lý ngần ngại khi phải góp ý hoặc khi phải áp dụng ý kiến tư vấn.
Phần cuối của đề tài thứ nhất nói đến bổn phận của Đức Giám mục trong việc lập các ngân quỹ chung của giáo phận: quỹ cho chủng viện, quỹ phát triển giáo phận, trợ giúp các giáo xứ có nhu cầu, tổ chức bác ái cấp giáo phận, trợ cấp giáo sĩ, trả lương cho những người làm việc trong Giáo hội địa phương, cùng với việc trợ giúp Toà Thánh và các công cuộc truyền giáo. Các nguồn cung cấp ngân quỹ được giáo luật dự liệu gồm việc dịch chuyển quyền quản trị một tài sản sinh lợi, việc đóng góp của các pháp nhân thuộc quyền giáo phận và việc tổ chức lạc quyên.
Sang đề tài thứ hai, cha giảng huấn đi từ truyền thống lâu đời của Giáo hội là ngăn cấm hàng giáo sĩ tham gia kinh doanh và thương mại, dựa trên lời thánh Phaolô: người chiến sĩ của Chúa Kitô "không ai vướng mắc vào những việc thuộc đời sống dân sự" (2Tm 2,4), và người quản lý của Thiên Chúa "phải là người không chê trách được, không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn" (Tt 1,7). Truyền thống ấy được cụ thể hoá trong Bộ Giáo luật 1917 với các quy định cấm giáo sĩ đứng bảo lãnh vay mượn, tránh những công việc bất xứng hoặc xa lạ với bậc giáo sĩ, và cấm kinh doanh buôn bán kiếm lời.
Tại Việt Nam, truyền thống này càng nghiêm ngặt hơn. Công đồng Dinh Hiến 1670 và Công đồng Faifo 1672 quy định linh mục không trực tiếp giữ tiền của, dù vẫn có trách nhiệm giám sát; Công đồng Kẻ Sở 1900 và Công đồng miền Bắc Kỳ 1912 cấm linh mục mua bán bất động sản hoặc kinh doanh; Công đồng Đông Dương 1934 và bản Năng quyền thập niên 1971-1980 của Giáo phận Sài Gòn đòi buộc phải có phép của Đấng Bản quyền khi mua bất động sản, khi nhận giữ của ký thác, khi vay mượn hoặc cho vay, khi xây cất hay tu bổ lớn.
Bộ Giáo luật 1983 giữ lại tinh thần ấy qua các Điều 285, 286, 1042 và 1392: nếu không có phép của Đấng Bản quyền, giáo sĩ không được quản trị tài sản của giáo dân hoặc những công việc đời có kèm nhiệm vụ trình sổ sách, không được đứng ra bảo đảm dù bằng của cải riêng, không được đích thân hay nhờ người khác kinh doanh buôn bán kiếm lời. Cha giảng huấn kết luận rằng luật hiện hành đã bỏ vạ tuyệt thông tiền kết, nhưng vẫn đòi Đức Giám mục ra hình phạt thích đáng đối với người vi phạm.
Đề tài thứ ba khởi đi từ định nghĩa của Điều 519: linh mục chánh xứ là mục tử riêng của giáo xứ, thi hành nhiệm vụ giảng dạy, thánh hoá và cai quản dưới quyền Đức Giám mục giáo phận. Theo thứ tự ưu tiên ấy, việc quản trị tài sản vật chất chỉ là một phần trong nhiệm vụ cai quản. Trách nhiệm mục vụ của cha sở không giới hạn nơi những người Công giáo có đóng góp cho giáo xứ, nhưng bao gồm cả người tạm trú, người di cư, người vãng lai, anh chị em không Công giáo và những người chưa tin đang sống trong địa bàn giáo xứ, cách riêng là những người nghèo.

Về việc quản trị, linh mục chánh xứ là đại diện hợp pháp của giáo xứ trong mọi công việc có tính cách pháp lý và là người quản trị chính thức tài sản của giáo xứ. Ngài có thể uỷ quyền một số công việc cho người khác, nhưng không bao giờ được chối bỏ trách nhiệm của mình; Giáo luật đòi ngài tham khảo ý kiến Hội đồng giáo xứ và cha hạt trưởng trong những việc quản trị quan trọng, và phải có văn bản cho phép của Bản quyền giáo phận khi mua bán, chuyển nhượng bất động sản hoặc khi chi tiêu vượt mức ngoại thường. Nếu việc quản trị gây thiệt hại nghiêm trọng cho giáo xứ, ngài có thể bị cách chức.
Cha giảng huấn cũng lưu ý hai đòi hỏi thiết thực. Thứ nhất là tuân giữ luật dân sự và bảo đảm quyền sở hữu tài sản của Giáo hội bằng những phương thế hữu hiệu theo luật, cụ thể là hoàn tất hồ sơ pháp lý cho các phần đất của giáo xứ, kể cả những phần đang bị lấn chiếm hoặc cho mượn chưa thu hồi được. Thứ hai là sự minh bạch: lập sổ nhật ký thu chi, báo cáo hằng năm cho Toà Giám mục và tường trình cho các tín hữu về việc sử dụng những tài sản họ đã dâng cúng cho Giáo hội.

Những ngày thường huấn tiếp tục giúp quý cha ý thức sâu xa hơn rằng việc quản trị tài sản không tách rời khỏi sứ vụ mục tử, nhưng là một cách thức phục vụ Dân Chúa trong sự trung tín, khôn ngoan và minh bạch. Nguyện xin Chúa ban cho quý cha luôn là những người quản lý trung tín của mầu nhiệm Thiên Chúa giữa cộng đoàn được trao phó.
Ban Truyền thông Giáo phận Phú Cường
