Header

Trí tuệ nhân tạo và giáo dục: Các trường đại học Công giáo trong kỷ nguyên AI

Bài viết suy tư về những thách đố và cơ hội mà trí tuệ nhân tạo đặt ra cho giáo dục đại học, đặc biệt trong bối cảnh các trường đại học Công giáo. Trước sức mạnh của công nghệ, các cơ sở giáo dục được mời gọi bảo vệ căn tính nhân bản, nuôi dưỡng khả năng phân định và đặt phẩm giá con người làm trung tâm của mọi tiến bộ kỹ thuật.
TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ GIÁO DỤC:
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG GIÁO TRONG KỶ NGUYÊN AI

Khi AI (artificial intelligence - trí tuệ nhân tạo) nhanh chóng định hình lại giáo dục, văn hóa và tương tác giữa con người, các trường đại học Công giáo trên toàn thế giới phải đối mặt với một câu hỏi quan trọng: làm thế nào giáo dục đại học, những “phòng thí nghiệm của hy vọng”[1], có thể vẫn trung thành với sứ mệnh nhân văn và đạo đức của mình trong thời đại thuật toán?

AI nổi lên đồng thời như một đối tượng của ước vọng không tưởng và nỗi lo lắng sâu sắc. Tuy nhiên, cốt lõi của nó vẫn là một biểu hiện sâu sắc của nỗi khao khát và tham vọng của con người. Dù nghịch lý, trí tuệ nhân tạo lại phản ánh cả con người hiện tại của chúng ta và con người mà chúng ta hy vọng trở thành. Đối mặt với “sức mạnh không thể tưởng tượng nổi”[2] đang được giải phóng thông qua các phương tiện công nghệ, nhân loại diễn giải và điều phối hiện tượng này thông qua các khuôn khổ khái niệm bắt nguồn từ hành trình không ngừng nghỉ của họ để hiểu thế giới.

Thông qua bộ khung nhân hình này, chúng ta gán cho AI một dạng trí thông minh mà, nói một cách chính xác, cấu thành một điều bất khả thi về mặt nhân học. Chúng ta gán cho nó giới tính, gán cho nó những khuôn mẫu hành vi quen thuộc khi nói rằng nó gợi lên ảo giác AI (AI hallucination là hiện tượng khi AI tạo ra thông tin nghe có vẻ hợp lý nhưng sai thực tế hoặc không đáng tin cậy), và ngày càng tiếp cận nó như thể nó là một tác nhân đạo đức - có khả năng chịu trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, hoặc thậm chí là tình bạn. Giám đốc điều hành của Anthropic, Dario Amodei, gần đây đã cảnh báo những rủi ro về thứ AI mạnh mẽ này bằng hình ảnh “tuổi vị thành niên công nghệ.” Tuổi vị thành niên công nghệ phản ánh tốt những lo lắng đương đại: giống như tuổi vị thành niên của con người, giai đoạn này cho thấy sự bất ổn, tính tò mò không ngừng, sự dao động cảm xúc và năng lực tiềm tàng cho sự sáng tạo, đổ vỡ, và thậm chí là bạo lực.

Điều gì có thể mang tính người hơn là sự dễ bị mâu thuẫn và không nhất quán - chính những điều kiện định nghĩa trải nghiệm của con người? Tuy nhiên, những hệ thống này không phải là con người. Chúng không thể là con người. Trách nhiệm của chúng ta với tư cách là những nhà giáo dục là phải đảm bảo rằng chúng không bao giờ thay thế nhân loại - dù có tính sáng tạo, đang dần hoàn thiện và phi thường đến đâu.

Điều này có ý nghĩa gì đối với các trường đại học - đối với sinh viên, giảng viên và nhân viên? Trong giai đoạn chuyển đổi mang tính thời đại này, thách thức do AI đặt ra đặc biệt khó khăn đối với các trường đại học Công giáo, vốn có sứ mệnh lấy con người làm trung tâm một cách triệt để và không thể thay thế. Như Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã nhấn mạnh trong Tông thư Vẽ nên những bản đồ mới của niềm hy vọng, các trường đại học không chỉ đơn thuần là nơi lưu trữ thông tin, cũng như sinh viên không chỉ đơn giản là những cá nhân có con đường được định hình bởi việc tiếp thu các kỹ năng và năng lực. Giáo dục đích thực nảy sinh thông qua đối thoại trong cộng đồng người học và người dạy; nó hình thành khả năng phân định hơn là cung cấp các câu trả lời tiêu chuẩn hóa. Giáo dục toàn diện ưu tiên việc đặt câu hỏi hơn là các giải pháp được đóng gói sẵn. Một trường đại học Công giáo - “nơi những câu hỏi không bị làm cho im lặng và sự nghi ngờ không bị xua đuổi mà được đồng hành”[3] - không thể cho phép “hiệu quả vô hồn”[4] của công nghệ làm xói mòn sứ mệnh tinh thần và trí tuệ của mình.

Cuộc khủng hoảng ngày nay được định hình bởi hai câu chuyện chủ đạo. Thứ nhất là câu chuyện về cơ hội; thứ hai là câu chuyện về thảm họa. Giữa chúng là con đường thứ ba: sự chấp nhận về mặt đạo đức.

AI mang lại cơ hội chưa từng có về mặt chuyên môn. Nó hứa hẹn nâng cao hiệu quả của việc tổ chức, giải phóng nhân viên cho những công việc có ý nghĩa hơn, hướng đến giá trị. Sức mạnh phân tích của nó cho phép xử lý nhanh chóng các tập dữ liệu khổng lồ, đẩy nhanh nghiên cứu, đổi mới và phát triển kinh tế. Đối với sinh viên, AI mở rộng khả năng tiếp cận kiến thức, cho phép khả năng tự học, tăng cường giao tiếp và thúc đẩy các hình thức hợp tác mới. Câu chuyện về những hứa hẹn này đang thống trị thời đại chúng ta. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Hãy xem xét thực tế của thế giới được kết nối hiện nay. Một nghiên cứu trên tạp chí Nature cho thấy gần một phần năm sinh viên đại học trên toàn thế giới có dấu hiệu nghiện mạng xã hội, với con số thậm chí còn cao hơn ở một số khu vực. Việc liên tục sử dụng thiết bị kỹ thuật số có liên quan đến việc giảm sự chú ý, phân tán khả năng tập trung và suy giảm trí nhớ. Hệ sinh thái mạng xã hội - được thúc đẩy bởi việc lập hồ sơ bằng AI - tạo ra những buồng vang thông tin (echo chambers là môi trường trực tuyến hoặc ngoại tuyến, nơi quan điểm, niềm tin của một người được củng cố và khuếch đại thông qua sự lặp lại liên tục, trong khi các ý kiến đối lập bị loại bỏ hoặc phớt lờ) giúp củng cố quan điểm hiện có, hạn chế tiếp xúc với sự khác biệt và góp phần gây ra lo lắng. Trong cuộc đấu tranh đang nổi lên giữa robot và bộ não con người, kết quả thường không phải là sự nâng cao nhận thức mà là sự tự mãn và lười biếng về mặt trí tuệ.

Đồng thời, các trường đại học phải đối mặt với áp lực thị trường ngày càng tăng từ các công ty công nghệ. Lời hứa về các nền tảng AI tích hợp, siêu hiệu quả - có khả năng chuyển đổi quản lý, giảng dạy và nghiên cứu - thường đi kèm với sự phụ thuộc về tài chính và nguy cơ đồng nhất văn hóa. Quá trình này dường như không ngừng nghỉ, được thúc đẩy bởi cạnh tranh thị trường và thường vượt xa sự suy ngẫm về xã hội và chính trị. Các trường đại học, hơn hầu hết các tổ chức khác, là cộng đồng của con người, được hình thành bởi con người và hướng đến lợi ích của con người.

Các cuộc thảo luận trong giới học thuật thường nghiêng về thuyết quyết định luận công nghệ (technological determinism là lý thuyết cho rằng công nghệ là nhân tố chính thúc đẩy sự thay đổi xã hội, văn hóa và cấu trúc kinh tế) - cho rằng các trường đại học bất lực trước sự thay đổi. Tuy nhiên, các trường đại học không thụ động. Nhiều trường đang nỗ lực hướng tới việc áp dụng công nghệ một cách có đạo đức: bảo vệ nền giáo dục lấy con người làm trung tâm, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường và bảo vệ căn tính của tổ chức khỏi sự xói mòn. Các công cụ thuật toán đã được sử dụng trong quản lý, nền tảng học tập, hệ thống toàn vẹn của học thuật và môi trường nghiên cứu - thường nằm trong khuôn khổ đạo đức và quy định.

Thách thức sâu sắc hơn rõ ràng không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề văn hóa - và thậm chí là vấn đề liên quan đến hữu thể học. Giáo dục có nguy cơ trở thành sự tổng hợp nhanh chóng hơn là sự hiểu biết sâu sắc, ưu tiên tốc độ hơn là trí tuệ. Khả năng mở rộng và hiệu quả, mặc dù có giá trị, có thể làm xói mòn sự tương tác cá nhân cốt lõi của giáo dục - cuộc đối thoại giữa người dạy và người học hình thành nên phán đoán, tính cách và trách nhiệm. Trong khi đó, sự chuẩn hóa do AI thúc đẩy ngày càng định hình các tổ chức, ảnh hưởng đến chính sách và cấu trúc cuộc sống hàng ngày, âm thầm hướng dẫn những gì chúng ta thấy, nghĩ và mong muốn.

Trong một thế giới đang hướng tới sự đồng nhất, các trường đại học Công giáo phải duy trì sự tham gia đầy đủ, tự do và tự chủ, đồng thời bảo tồn căn tính riêng biệt của mình. Xuất phát từ sự bảo vệ triệt để phẩm giá con người, các trường đại học Công giáo được kêu gọi thúc đẩy sự tiến bộ có trách nhiệm về mặt công nghệ và dựa trên nền tảng đạo đức. Các trường đại học Công giáo đứng vững như những người bảo vệ một hệ sinh thái tri thức toàn diện, vận dụng trí tuệ theo nghĩa đầy đủ nhất, đón nhận công nghệ khi nó phục vụ phẩm giá con người và kiềm chế nó khi nó đe dọa phẩm giá đó.

Các trường đại học luôn là nơi giữ cho ánh sáng luôn rực rỡ trong những thời điểm bất ổn, nơi tư tưởng chống lại bóng tối, và nơi công việc mong manh, rực rỡ của việc hình thành nhân cách tiếp tục qua nhiều thế hệ. Nếu tương lai thách thức chúng ta nhớ lại ý nghĩa của việc làm người, thì có lẽ đây không chỉ là một cuộc khủng hoảng, mà là lời kêu gọi nhấn mạnh sứ mệnh của chúng ta. Bởi vì vượt ra ngoài các thuật toán và hệ thống, vượt ra ngoài hiệu quả và tốc độ, thì vẫn còn đó một mầu nhiệm thầm lặng, không thể giản lược của con người - có khả năng tìm thấy chân lý, tự do và tình yêu thương. Và vì vậy, trường đại học vẫn tồn tại: không phải như một di tích của quá khứ, mà như một lời hứa sống động cho tương lai - rằng trí tuệ sẽ trường tồn hơn quyền lực, rằng nhân loại sẽ không quên chính mình, và rằng tiếng nói của con người sẽ tiếp tục cất lên, đặt câu hỏi và hy vọng.

Tác giả: Isabel Capeloa Gil *

Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

Chuyển ngữ từ: L'Osservatore Romano (06/3/2026)

Nguồn: giaophanvinhlong.net

-------------

Isabel Capeloa Gil là hiệu trưởng Đại học Católica Bồ Đào Nha; Chủ tịch, SACRU - Strategic Alliance of Catholic Research Universities (Liên minh chiến lược của các trường đại học nghiên cứu Công giáo).

[1] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông hiến Veritatis Gaudium, (2018) 9-10.

[2] Dario Amodei, ‘Tuổi thiếu niên của công nghệ’, tháng 1 năm 2026. (https://www.darioamodei.com/essay/the-adolescence-of-technology)

[3] Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Tông thư, Vẽ nên những bản đồ mới của niềm hy vọng, (2025) 3.1.

[4] Ibid., 9.1.

CHIA SẺ BÀI VIẾT